Thứ Tư, 27 tháng 6, 2018

Công ty cho nhân viên trồng lúa trong văn phòng, cuối vụ đưa cả con đến gặt cho vui

Thời gian đầu, chỉ có khoảng 200 loài thực vật, rau củ quả, cũng như là trái cây, hoa màu dược liệu, lúa nước được trồng trong công ty. Đến nay, số lượng cây trồng đã lên đến hơn 280 loại. Các khâu từ ươm mầm, trồng trọt đều do chính tay các nhân sự ở đây thực hiện.


Sống và làm việc giữa thành phố quanh năm ồn ào náo nhiệt, khói bụi ô nhiễm nên đôi khi người ta “thèm” được trở về những miền quê để tận hưởng bầu không khí trong lành với các loại cây xanh hoa màu, sông suối trong sạch và ăn những món ăn thuần túy của nghề nông, trồng sao ăn vậy, chẳng tẩm tiêm hóa chất.
Quả thật, đây là giấc mơ của không ít người, nhất là dân văn phòng giam mình 8 tiếng mỗi ngày nơi cơ quan khô khan, nhiều áp lực.
Và có lẽ hiểu rõ tâm lý này của nhân viên, Tập đoàn Pasona - một trong những tập đoàn nhân sự lớn nhất Nhật Bản đã biến tòa nhà công ty cao 9 tầng và rộng gần 4.000 mét vuông của mình trở thành nơi kết hợp giữa văn phòng và nông trại trồng trọt.
Ban đầu, Pasona Group đã triển khai nhiều sáng kiến ​​nông nghiệp như "Dự án thực tập nông nghiệp" từ năm 2003 để khuyến khích nhân sự của mình tham gia vào việc trồng trọt. Và dự án phủ xanh tòa nhà này hay còn được gọi với cái tên “Farm To Table” cũng là một phần của dự án.
Đây có thể xem là mô hình trồng trọt kết hợp với văn phòng lớn nhất Nhật Bản.
Thời gian đầu, chỉ có khoảng 200 loài thực vật, rau củ quả cũng như là trái cây, hoa màu dược liệu, lúa nước được trồng ở các khu vực chỉ định ở cả 9 tầng của tòa nhà. Nhưng đến nay, số lượng cây trồng đã lên đến hơn 280 loại.
Các khâu từ ươm mầm, trồng trọt đều do chính tay các nhân sự ở Pasona thực hiện dưới sự hướng dẫn tỉ mỉ của các chuyên gia về trồng trọt nông sản tại Nhật Bản.


Đối với các cây trồng trong nhà, Pasona đã đầu tư lắp đặt một hệ thống tưới tiêu tự động, cùng với bộ điều khiển khí hậu thông minh, giám sát độ ẩm, nhiệt độ, gió để cân bằng giữa nhu cầu của nhân viên và cây trồng trong giờ hành chính.
Sau khoảng thời gian đó, các hệ thống này chỉ được tùy chỉnh cho cây trồng để có năng suất tốt hơn mà không sợ ảnh hưởng đến mọi người. Riêng về ánh sáng, Pasona sử dụng các bóng đèn huỳnh quang cải tiến để tăng cao tuổi thọ và tiết kiệm điện hơn so với các loại đèn huỳnh quang thông thường lên đến 25%.



Còn đối với cây trồng ngoài trời, ở khắp các ban công, cửa sổ trên cả 9 tầng của tòa nhà tập đoàn đều được phủ xanh bởi các loại hoa quả theo mùa đặc trưng của khí hậu Nhật Bản. Ngoài ra, chúng còn có công dụng tạo nên một vẻ đẹp rất riêng của tòa nhà khiến người đi đường cảm giác thích thú.
Những loại cây này hay các loại nông sản theo mùa vụ như lúa nước, đến mùa thu hoạch nhân sự còn được phép đưa con em mình đến để cùng trải nghiệm cảm giác làm nông dân giữa lòng thành thị - một điều mà bao đứa trẻ lớn lên ở thành phố, nhất là thành phố lớn như Tokyo chưa bao giờ làm được.



Tất nhiên, các sản phẩm thu được sau quá trình thu hoạch đều được dùng cho các nhân viên ở Pasona: rau củ quả thì được đưa về nhà bếp để chế biến thành các món ăn, dược liệu được phòng y tế tiếp nhận và bảo quản phục vụ nhu cầu ốm đau của nhân sự, trái cây dùng để đãi đối tác hoặc làm món tráng miệng...
Và dù cho chắc chắn những sản phẩm này không bao giờ là đủ cho toàn bộ nhân sự ở đây, cái chính là Pasona đã tạo nên cho riêng mình một giá trị to lớn mà hiếm có tập đoàn nào làm được.


Thử nghĩ mà xem, mỗi ngày đi làm đều được tự mình kiểm tra hạt mầm dưới ghế ngồi, rồi cùng nhau đi thu hoạch rau củ, đến cả việc ngồi bàn bạc công việc cũng có một mảng cây xanh xum xuê trĩu quả kế bên, đi họp lại có cà chua chín mọng hay bí ngô căng bóng treo lủng lẳng trên đầu, đến giờ ăn lại được cảm nhận thành quả của mình làm nên qua các đĩa salad... thì có phải Pasona đã làm nên một môi trường làm việc đầy sáng tạo, giải tỏa stress căng thẳng và khơi nguồn cảm hứng cho nhân viên hay không?


Và ngoài những ý nghĩa thiết thực kể trên, dự án “Farm To Table” của tập đoàn Pasona còn mang đến một giá trị vĩ mô hơn cho xã hội, đó là giúp nâng tầm nhận thức của con người, nhất là người thành thị về tác dụng cây xanh trong đời sống, bao gồm cả sức khỏe lẫn tinh thần.








Theo helino

Trung Quốc khánh thành 2km đường cao tốc năng lượng mặt trời

Chúng ta đã quen thuộc với hình ảnh các tấm pin năng lượng mặt trời trên mái nhà hay trên phương tiện giao thông. Gần đây người ta đã đi đến một ý tưởng táo bạo hơn, đó là biến mặt đường cao tốc thành pin mặt trời. Trung Quốc là một trong các nước bắt đầu thử nghiệm ý tưởng này.


(Ảnh: Xinhua)

Đầu tháng 12/2017 ở Tế Nam, chính quyền đã cấp phép cho xây một đoạn đường dài 2km (theoChina Daily) như vậy với 3 lớp: lớp cách điện ở dưới, lớp quang điện ở giữa, và lớp bảo vệ “bê tông trong suốt” ở trên cùng. Theo tác giả Echo Huang trên qz.com, tổng diện tích thu ánh sáng là 5875 m2, có thể tạo ra 1 triệu KWH điện trong 1 năm. Lượng điện năng này sẽ được dùng để chiếu sáng đường và chạy hệ thống làm tan tuyết.
Điều gì đã khiến họ đi đến ý tưởng này? Để có được lượng điện năng đủ lớn, chúng ta phải có diện tích pin mặt trời đủ rộng, nhưng lại khó tìm được diện tích tiếp xúc với ánh sáng mặt trời đủ rộng, do vậy người ta nghĩ tới việc gắn pin mặt trời dọc hai bên đường rồi tiến tới ý tưởng biến toàn bộ mặt đường thành pin mặt trời. Cách làm như vậy có những ưu điểm khá nổi bật, nhưng cũng kèm theo những nhược điểm khó khắc phục.
Ưu điểm nổi bật nhất là khắc phục được vấn đề truyền tải điện. Nếu biến nền đường thành pin mặt trời thì có thể cung cấp điện cho các hộ ven đường. Ví dụ, theo trang web howstuffworks, một tấm vuông 3,7 x 3,7m có thể cung cấp 7,6 KWH mỗi ngày, thì một dặm đường (1,6 km) có thể cung cấp điện cho 500 hộ. Nếu ở trên đường cao tốc, chúng ta có thể đặt các trạm sạc điện ven đường để các phương tiện chạy bằng điện có thể sạc khi cần thiết. Cách bố trí như vậy không cần dây điện đường dài để dẫn điện từ nhà máy điện về.



(Ảnh: China Daily)

Tuy vậy, hệ thống này cũng có nhiều nhược điểm. Thứ nhất, vật liệu phải đủ cứng để chống chọi với sức nặng và lực rung của xe khách và xe tải chạy trên đường. Ngoài ra ánh sáng mặt trời phải xuyên qua lớp bùn đất, bụi bặm bám trên đường để xuống được tới lớp quang điện, khiến hiệu suất giảm xuống. Đặc biệt, vào những ngày ảm đạm hoặc vào mùa đông thì hiệu suất còn giảm xuống thêm nữa. Hệ thống tương tự như thế này lắp đặt ở Hà Lan trước đây cho thấy nó chỉ tạo ra được lượng điện chỉ bằng 30% so với hệ thống tấm pin mặt trời lắp trên các mái nhà.
Một nhược điểm khác là giá cả. Loại pin kiểu này tốn 3000 nhân dân tệ cho 1 m2, tương đương với 458 USD, tức hơn 10 triệu VND, đắt hơn đường bình thường rất nhiều. Ngoài ra chi phí khi sửa chữa những đoạn đường bị hỏng cũng rất đắt vì nó còn liên quan đến hệ thống dẫn điện của pin, chưa kể tới việc rất ít công nhân có thể sửa được loại đường này.
Giới công nghệ trên thế giới hiện còn đang đặt ra câu hỏi liệu Trung Quốc có thể thực sự thành công trong dự án này hay không vì họ đã khá “nổi tiếng” với những dự án về cơ sở hạ tầng hướng đến phát triển bền vững – nghe đình đám lúc đầu nhưng lại kết thúc trong thất vọng, ví dụ như dự án về xe buýt khổng lồ.

Thành Đô tổng hợp


Nghiên cứu Uống rượu làm tổn thương tới DNA, tăng nguy cơ ung thư

Các nhà khoa học đã tìm ra quá trình rượu làm hại DNA trong tế bào gốc, từ đó giải thích rõ hơn vì sao uống rượu có thể làm tăng nguy cơ ung thư, theo một nghiên cứu được tài trợ một phần bởi tổ chức Nghiên cứu ung thư Anh Quốc, đăng trên tạp chí Nature ngày 3/1.


Rượu mạnh tăng khả năng mắc bệnh ung thư và nhiều vấn đề sức khỏe khác (Ảnh: Shutterstock)

Trước đây nhiều nghiên cứu đã xem xét quá trình rượu gây ra ung thư ở cấp độ tế bào. Nhưng nghiên cứu này đã xem xét ở cấp độ gen về quá trình rượu gây ra ung thư.
Các nhà khoa học ở Phòng thí nghiệm sinh học phân tử MRC, Cambridge đã cho chuột dùng rượu pha loãng (ethanol). Sau đó họ phân tích chromosome và chuỗi DNA để kiểm tra mức độ tổn hại gen gây ra bởi acetaldehyde – một chất có hại được tạo ra trong quá trình cơ thể xử lý rượu.
Họ phát hiện ra acetaldehyde có thể làm gãy và làm hư hại DNA trong tế bào máu gốc, dẫn đến sự thay đổi trật tự của các chromosome và thay đổi chuỗi DNA vĩnh viễn trong các tế bào này. Khi những tế bào gốc khỏe mạnh bị lỗi, nguy cơ ung thư sẽ tăng lên.
Những phát hiện này giúp chúng ta hiểu vì sao rượu làm tăng nguy cơ của 7 loại ung thư, trong đó có các loại hay gặp như ung thư vú và ung thư ruột. Giáo sư Ketan Patel, người đứng đầu nhóm nghiên cứu cho biết: “Nguyên nhân của một số loại ung thư là do DNA trong tế bào gốc bị hư hại. Có một số loại hư hại là tình cờ, nhưng phát hiện của chúng tôi cho thấy uống rượu có thể làm tăng nguy cơ của những hư hại này.”

2 tuyến bảo vệ cơ thể trước tác hại của rượu


Rượu thật trong ngắn hạn chỉ khiến người uống say xỉn, gây chết người chủ yếu là rượu cồn công nghiệp methanol (Ảnh chụp/ Youtube)

Nghiên cứu cũng xem xét cách cơ thể tự bảo vệ khỏi bị tổn thương bởi rượu. Tuyến bảo vệ đầu tiên là một họ enzyme tên aldehyde dehydrogenases (ALDH). Những enyzyme này tách acetaldehyde thành các acetate, và có thể dùng làm nguồn cung cấp năng lượng cho tế bào.
Có hàng triệu người trên thế giới thiếu loại enzym này,  hoặc enzyme không hoạt động bình thường, đặc biệt là ở Đông Nam Á. Do vậy khi họ uống rượu, lượng acetaldehyde sinh ra sẽ không có enzyme tiêu đi, nó có thể gây đỏ mặt, từ đó khiến họ cảm thấy không khỏe.
Trong nghiên cứu, khi người ta đưa rượu cho những con chuột thiếu loại enzyme ALDH2 (một loại ALDH quan trọng), nguy cơ hư hại DNA cao gấp 4 lần so với những con chuột có ALDH2 hoạt động bình ổn.
Tuyến bảo vệ thứ hai của tế bào là các hệ thống sửa chữa DNA, trong đa số các trường hợp nó có thể sửa chữa và đảo ngược sự hư hại của các DNA. Nhưng không phải lúc nào nó cũng có tác dụng. Khi các tế bào không thể sửa chữa được những hư hại này, thì người đó sẽ mang theo đột biến gen.
Giáo sư Patel nói thêm: “Nghiên cứu của chúng tôi nhấn mạnh rằng, khi không thể tiêu hóa rượu một cách hiệu quả, DNA sẽ dễ bị hư hại hơn, từ đó dẫn đến một số loại ung thư. Hệ thống giải rượu và sửa chữa DNA của cơ thể không phải là hoàn hảo và rượu vẫn có thể gây ung thư theo nhiều cách, thậm chí cả ở những người mà hệ thống phòng bệnh còn nguyên vẹn.”
Theo Ths.BS Tạ Văn Trình làm việc tại Bệnh viện K, trong 6 loại ung thư gặp phổ biến nhất ở nam giới, thì có đến 2/3 loại ung thư liên quan đến thói quen uống rượu. Trong đó, có những loại ung thư tỉ lệ tử vong rất cao, như ung thư gan: tỷ lệ mắc là 40,2% thì tử vong cũng lên đến 39,1%.

Theo sciencedaily.com,

Thành Đô


Bí ẩn Cánh đồng Chum ở Lào và truyền thuyết về những người khổng lồ

Cánh đồng Chum ở cao nguyên Mương Phuôn, tỉnh Xiêng Khoảng (Xieng Khouang) của Lào là một trong những khu vực bí ẩn nhất trên Trái Đất. Kể từ khi được phát hiện những năm đầu thế kỷ 20, đây là địa điểm thu hút sự quan tâm của giới khoa học.


Hàng ngàn chiếc chum khổng lồ bằng đá nằm rải rác ở vùng đất khô cằn rộng khoảng 25 héc-ta, phía bắc nước Lào. (ảnh: Shutterstock)

Cánh đồng Chum được cho là xuất hiện từ thời kỳ đồ sắt (500 TCN – 500 SCN) bao gồm ít nhất 3.000 chiếc chum bằng đá có chiều cao lên đến hơn 3m và trọng lượng vài tấn đến hơn chục tấn.  Hầu hết những chiếc chum được làm từ đá sa thạch, nhưng cũng có cái làm từ loại đá hoa cương rất cứng và đá vôi. Mỗi chiếc chum được chạm khắc các hình người hay động vật cùng một số biểu tượng khác. Người ta còn tìm thấy các tảng đá gần những chiếc chum và giả thuyết chúng là những chiếc nắm đậy chum, nhưng vì một lý do nào đó chúng bị bỏ đi. Hiện tại chỉ còn một cái chum duy nhất có nắp.



Chiếc chum duy nhất có nắp còn lại (ảnh: internet)

Những chiếc chum dường như được chế tạo bởi với trình độ kỹ thuật và các vật liệu phù hợp với tuổi thọ được giả thuyết. Người ta cho rằng những người chế tạo ra chúng đã sử dụng đục bằng sắt, mặc dù không có bằng chứng về điều này. Chúng ta có rất ít thông tin về những người đã tạc ra những chiếc chum khổng lồ này, mà bản thân chúng cũng không cung cấp nhiều gợi ý về nguồn gốc và mục đích của chúng.
Năm 1909, lần đầu tiên thế giới phương Tây được biết tới những cái chum khổng lồ do phát hiện của Vinet – một viên thuế quan người Pháp. Đến năm 1923, Henri Parmentier – nhà khảo cổ người Pháp đã có dịp đến Cánh đồng Chum nhưng cả hai ông đều đã không có phát kiến gì về mục đích của các chum này. Mãi đến năm 1930, Cánh đồng Chum mới được nghiên cứu tường tận do bà Madeleine Colani thuộc trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp (École Française d’Extrême-Orient).
Truyền thuyết về những người khổng lồ
Theo truyền thuyết của địa phương, những chiếc chum được tạo ra bởi một cuộc đua của những người khổng lồ, vua của họ cần chúng để chứa loại rượu gạo của ông ta. Loại rượu được sử dụng trong bữa tiệc ăn mừng một chiến thắng lẫy lừng trong chiến tranh hàng ngàn năm về trước.
Truyền thuyết kể rằng một vị vua độc ác, tên là Chao Angka, đã áp bức dân chúng của mình đến nỗi người dân đã kêu gọi một vị minh quân ở phía bắc có tên là Khum Jeuam đến giải phóng họ. Khum Jeuam đã mang quân đến, hai bên xảy ra cuộc giao tranh lớn trên cánh đồng, cuối cùng Chao Angka đã bị đánh bại.
Nếu người khổng lồ thực sự tồn tại, thì có lẽ việc đục ra những cái chum này sẽ chỉ như chúng ta đục một cái vại đựng nước ở nhà mà thôi.
Giả thuyết của các nhà khoa học
Trong khi một số người cho rằng những chiếc chum khổng lồ được sử dụng để dự trữ nước mưa vào mùa mưa thì hầu hết các nhà khảo cổ học tin rằng những chiếc chum được sử dụng để đựng hài cốt của người đã chết.


Những chiếc chum khổng lồ được làm ra để an táng người đã chết? (ảnh: zing.vn)

Trong hai cuốn Mégalithes du Haut-Laos (Cự thạch cổ vùng Thượng Lào – 1935), bà Madeleine Colani đưa ra giả thuyết mỗi cái chum là một cái quách chôn người chết. Những khai quật được thực hiện bởi các nhà khảo cổ học Lào và Nhật Bản trong nhiều năm qua đã ủng hộ giải thích này với sự phát hiện về dấu vết của con người, đồ vật và gốm sứ được mai táng xung quanh một số chiếc chum. Người ta tin rằng những chiếc chum đã được sử dụng để đặt xác người chết vào và chờ cho phân hủy. Sau khi xác bị phân hủy, xương sẽ được mang đi hỏa táng và chôn ở dưới đất. Và những chiếc chum được sử dụng để dành cho những người đã khuất khác. Đây là tục lệ phổ biến ở Thái Lan và Lào.
Vẫn còn nhiều bí ẩn
Các nhà khảo cổ đã tính toán rằng, cần phải nhiều thế kỷ mới có thể làm ra được hàng ngàn chiếc chum như ở Cánh đồng Chum. Cần lưu ý rằng đá granit là loại vật liệu tự nhiên có độ cứng chỉ thua kim cương. Vậy, những người cổ đại với trình độ thô sơ, liệu có thể làm được những chiếc chum bằng những chiếc đục sắt của mình hay không?
Chiều cao người trung bình người châu Á cổ đại chỉ khoảng 1,5m, vậy đâu là lý do để họ làm ra những cái chum khổng lồ, có cái cao đến tận 3,25m để an táng người đã khuất trong điều kiện kỹ thuật hết sức thô sơ?


Hầu hết những chiếc chum có kích thước khổng lồ so với người bình thường (ảnh: wikimedia)

Những ngọn núi cách khu vực Cánh đồng Chum đến hàng chục cây số, vậy làm thế nào để người cổ đại có thể vận chuyển hàng nghìn chiếc chum khổng lồ nặng hàng tấn qua hàng chục km?
Thêm một điều bí ẩn nữa là, khi sử dụng phân tích đồng vị phóng xạ carbon, các nhà khoa học phát hiện rằng một số bộ xương thu được ở Cánh đồng Chum còn có tuổi xương cao hơn cả tuổi chum ở nơi đây.
Qua hàng chục năm nỗ lực tìm kiếm, đến nay các nhà khoa học vẫn không thể giải thích được sự tồn tại bí ẩn của Cánh đồng Chum. Thêm vào đó, một trong những trở ngại lớn khiến Cánh đồng Chum chưa được khảo sát kỹ lưỡng là vì nơi đây rất nguy hiểm. Trong thời kỳ chiến tranh (1964 – 1973), không quân Mỹ rải xuống khu vực này hàng nghìn tấn bom mìn, và chúng vẫn nằm im trong lòng đất, đe dọa những người dân ở đây và du khách tham quan.
Hy vọng trong tương lai, khi bom mìn được gỡ hết, các nhà khảo cổ sẽ có thể tìm ra được nguồn gốc bí ẩn của khu vực Cách đồng Chum.

Thiện Tâm tổng hợp

Nghệ thuật ẩm thực Huế trong bếp ăn của vương gia chính thống triều Nguyễn

“Thực phổ bách thiên” là tên một cuốn sách dạy gia chánh gồm 100 bài thơ hướng dẫn cách chế biến những món ăn thông dụng trong các gia đình Huế. Nói thêm, đây là bếp ăn của gia đình quí tộc Huế, vì tác giả Trương Thị Bích là dâu của Tùng Thiện Vương; và bài thơ đề sách cho biết rằng chính nhạc mẫu của bà (tức là phu nhân của Tùng Thiện Vương) đã “dạy vẽ” cho bà về cung cách nấu nướng ẩm thực Huế ở đây:
Bắt chước bà già thuở dọn xơi,
Làm thành thực phổ dạy cho người.
Do đó, “Thực phổ bách thiên” trước hết cho ta một khái niệm về bếp ăn của một vương gia chính thống thời triều Nguyễn chưa đến nỗi sa sút.


Thế nhưng, trong số 100 món ăn được giới thiệu, chỉ có gần 30 món thuộc cao lương mỹ vị của giới quyền quý (yến sào, nem công, gân nai, vi cá, bào ngư, cửu khổng, v.v…), phần còn lại đều là những món ăn bình thường (chả, nem, tré…), trong đó hầu hết là những thức ăn dân dã nhà nghèo (rau củ, các loại muối, dưa và gần đủ các thứ mắm trong bếp nhà dân). Quí tộc Huế nghèo thôi nhưng đâu đến nỗi nghèo đến thế. Như đã từng thấy trong mọi lãnh vực, văn hóa cung đình Huế (ở đây là văn hóa ăn) mang bản chất dân gian rất nhất quán, và chính là dân gian được tinh luyện để đạt tới sự hoàn mỹ về chất lượng. “Thực phổ bách thiên” bảo toàn đúng khẩu vị Huế, chỉ thêm vào đó bàn tay công phu của người nội trợ. Thí dụ trong bài “Rang muối sả”, lời chỉ dẫn đầu tiên là “Tuy rằng muối sả, rất nhiều công phu”.
Điều đáng quý của “Thực phổ bách thiên” trước hết là đã lưu lại nhiều món đặc sản không còn tìm thấy trên thực đơn của người Huế bây giờ, như lele hon, đuôi cừu nướng, gân nai hầm, chả nghêu, v.v. Xem lại, thấy chỉ trừ vài món là quà quí tộc (thí dụ món gân nai, phải nấu bằng nước hầm gà lọc trong), còn lại đều là những thức thịt cá thông thường được chế biến thành món ăn lạ.


Chương trình “Nàng thơ xứ Huế” nói về văn hóa ẩm thực Huế.
Xin dẫn một vài món làm quà:
– Cá rô um muối:
Cá rô tách nạc bỏ xương ra
Mỡ nước um vàng rắc muối và
Lửa phải vùi tro không ngại khét
Đã thơm lại béo có chi qua.
– Dưa giá:
Giá nhặt xong rồi rửa thí phèn
Muối trong, ớt đỏ, kiệu, măng xen
Chua vừa ướm, ướm dòn tan bã
Vị thiệt thinh thao chẳng phải hèn.
– Chả bông bí:
Bông mai ướm nở, hái nay vừa, 
Tước cạnh, xoi tim, cuống phải chừa. 
Tôm quết, gia màu, dồi nhận lại, 
Chiên lần nhúng trứng, lửa bưa bưa…
– Chim sẻ rán:
Sẻ rán dòn ngon phải cách sang,
Rượu sen rưới bóp mỡ um vàng,
Xì dầu rãy thấm chao ngòi trứng
Ngũ vị thơm tho ngọt thí đàng.
Trong những dịp đãi đằng, có khách lạ tới nhà, người phụ nữ Huế thường thích thao diễn tài nội trợ, bằng cách bày ra những món ăn lạ mắt, đẹp mắt, tức là mời khách ăn bằng mắt trước khi ăn bằng miệng. Sách “Thực phổ bách thiên” lưu ý về điều này:”Như tục thường: độn giò heo, nấn hình thỏ, dồi cổ vịt, bắt đầu hôn, dùng phẩm hường nhuộm sắc đỏ, ngâm lá chàm giả màu xanh; đều là làm khéo, không phải là làm ngon”.
Nhưng nguyên tắc căn bản của thuật nấu ăn là làm ngon. Làm thế nào để nấu ăn cho ngon? Cho từng món ăn, các bài thơ của “Thực phổ bách thiên” luôn luôn chỉ dẫn về hai nội dung của bí quyết chế biến, là sử dụng các chất liệu có mùi vị “hạp nhau”, thứ đến là cách nấu nướng. Để tạo một hòa âm hoàn chỉnh về mùi và vị, người nội trợ phải nắm chắc cách dùng “đồ màu” (gia vị), và những thức gia phụ có chức năng gần như gia vị dành riêng cho mỗi món ăn.


Chương trình “Nàng thơ xứ Huế” nói về văn hóa ẩm thực Huế.
Đồ gia vị giữ vai trò quyết định trong món ăn Huế, tỉ mỉ, đa đoan, và nhiều khi tốn kém hơn cả vật liệu thịt cá, nhưng chính nhờ thế mà tạo ra hiệu quả vị giác hoàn toàn khác lạ. Có món ăn rất cao sang, như bồ câu tiềm yến sào, nhưng gia vị chỉ cần một chút muối và tiêu. Ngược lại, món lele hon đòi hỏi một danh sách dài những đồ phụ gia gồm: rượu, xì dầu, tỏi, gừng, tương, đường, ngũ vị hương (kể như 5 vị), măng, sen, nấm, táo, đậu, cộng tất cả là 16 vị. Hoặc là món thịt hôn bình dân cũng gồm tới 15 vị! “Thực phổ bách thiên” có một bài thơ nhấn mạnh nguyên tắc sử dụng đồ gia vị thích hợp cho từng loại rau trái ngay trong bát canh dân dã như sau:
Canh bầu thì thích lá rau hao, 
Cho biết rau hành bỏ bí đao. 
Hầm mít lại ưa sân với lốt, 
Bí ngô thời phải tỏi gia vào.
Các món phụ gia cũng thành bài bản hoàn chỉnh, thí dụ nấm tràm dùng cho canh rau tập tàng, nấm mối cho canh bông lý, cá thệ kho kèm với dừa, còn cá óc mó nấu canh cùng với thơm, mà phải là thơm sòng (giống thơm đặc sản ở Quảng Trị).
Cách nấu nướng đòi hỏi phải thực hiện chính xác, giống như động tác tổng hợp trong hóa học. Ngày xưa làm món kho tàu thì thịt phải hấp trước chứ không để sống như bây giờ; rau khoai, rau muống cho vào luộc phải bó thành bó tròn; nấm mối nướng phải cho vào ống nứa hoặc kho rim cá ngứa phải lót trách bằng mía, v.v.. Công việc bếp núc xưa có động tác “phiếu”, tức là làm cho trắng, thí dụ mứt bí đao phải “phiếu” trắng tinh. Có hai cách: với lát bí nhỏ, thì phiếu bằng cánh ngâm bí vào nước đem phơi nắng ba ngày, còn với lát bí to, thì phiếu có nghĩa là xếp bí lên sàng phơi ngoài nắng, chốc chốc lại dội nước, cũng trong ba ngày.
Phụ nữ Huế gọi nghệ thuật chế biến món ăn bằng một từ giản dị, là nêm – nấu. Nói nấu – nướng là sai, bởi vì nêm (pha đồ gia vị) là việc quan trọng đầu tiên để tạo ra vị ngon của món ăn, như lời thơ đề từ của Hồng Khẳng (chồng tác giả) khen tài bếp núc của các bà nội trợ: “Ăn, dùng nhờ có mụ nêm ngon”.


Chương trình “Nàng thơ xứ Huế” nói về văn hóa ẩm thực Huế.
Cuối cùng, để đánh giá đúng chất lượng của sản phẩm do bàn tay mình làm ra trước khi đem mời, các bà nội trợ không có cách nào khác ngoài… cái lưỡi, tức là nếm thử. Vì thế, trong lời giới thiệu cuốn sách, bà Nguyễn thị đã đưa ra mội lời khuyên có tính gia trưởng: “Xin đặn lời này, rút sau làm kết: làm xong thì nếm, khuyên chớ hổ ngươi.”
Trở lại với bản chất dân gian của món ăn Huế nói trên, người ta không ngạc nhiên khi thấy một cuốn sách giáo khoa nữ công hoàng gia lại đầy đủ về cách nấu cơm (bài học đầu tiên), luộc rau, rang muối mè, um cá rô hoặc nấu canh mít. Ngoài một số sơn hào hải vị có gốc Trung Quốc (sau này có xen thêm vài món kiểu Pháp), kể cả vua Nguyễn vẫn dùng chủ yếu những món ăn dân gian, được chế biến bằng nghệ thuật nêm – nấu tinh tế vốn được tích lũy vô tận trong văn hóa ăn của người Huế. Điều này được đúc kết trong bài: “Xin bày lời” của bà Tôn Nữ Thị Lệ, con gái của tác giả: “Đồ ăn không phải là hễ cá thịt thì ngon, mà dưa rau thì dở. Chi ngon cũng được, mà chi dở cũng được, ngon dở tại nơi tay mình, chớ có tại gì nơi rau thịt.”
Ngoài dạy cách chế biến các món ăn “Thực phổ bách thiên” còn mở rộng thêm những điều cần thiết để làm được một bữa ăn ngon.
Trước hết, là quan hệ giữa đi chợ và nấu ăn. Để chủ động trong dự kiến tối ưu về thực đơn của mình, người nội trợ phải nắm vững tình hình chợ búa trong vùng, biết rõ giá cả và các thức bày bán vào thời điểm đó, tuyệt đối không gặp chăng hay chớ. Sách viết:
“Có biết nấu ăn mới biết đi chợ, mà có biết đi chợ mới biết nấu ăn. Thịt theo chợ mà cá theo mùa: tính đã mới mua, mua vừa cho nấu, trước đã khỏi phí đồng tiền vô lối, sau trong nhà lại được miếng ăn ngon; chớ có phải mua về là đi chợ, mà kho chín là nấu ăn đâu?”
Nhiều thập kỷ sau, một trong tác phẩm gia chánh về 300 món ăn Huế, bà Hoàng Thị Cúc (người áo trắng trong bài thơ Đây thôn Vỹ Dạ của Hàn Mạc Tử) đã hướng dẫn một thực đơn dài hạn cho từng bữa ăn trải bốn mùa xuân hạ thu đông, trên cơ sở các thứ rau trái, cá thịt mùa nào thức ấy ở các chợ Huế.
Một quan niệm khác thuộc về đạo lý, rằng người phụ nữ Huế đặt chữ công trong chữ hiếu và chữ thuận; giỏi bếp núc trước hết là để phụng dưỡng cha mẹ và chăm sóc chồng, thứ đến là đem lại vinh dự cho gia đình trong cuộc khách khứa đãi đằng. Miếng ăn ngon, là ngon cho người, không phải cho mình; vì thế, người nội trợ phải hiểu rõ khẩu vị của người ăn, lấy đó làm chuẩn mức để đo lường bếp núc. Tác giả dặn con gái: “chua, cay, mặn, lạt tùy ý người ăn; mình nấu cho ai thì phải tùy ý người ấy. Coi như mẹ thường đến thăm các bà đầm; khi mời nước, thì các bà thường hỏi: ‘Có dùng đường không? Dùng mấy viên?’ rồi mới bỏ. Coi trong một chén nước, mà người ta còn ân cần, kỹ lưỡng, tình ý trân trọng nhưvậy, huống chi là đến đồ ăn!”. Đây là sự thể hiện của đức tính hy sinh, của tinh thần nhân văn sâu sắc, được nhấn mạnh trong một cuốn sách gia chánh nhỏ.


Chương trình “Nàng thơ xứ Huế” nói về văn hóa ẩm thực Huế.
Trong bốn đức công, dung, ngôn, hạnh xưa, người ta tránh khen người phụ nữ trước mặt người khác về nhan sắc (bị xem là sỗ sàng), về ăn nói dịu dàng (khen thừa), và về cốt cách đoan trang (thế lại là trịch thượng). Lời khen tặng lịch sự nhất dành cho người đàn bà Huế là khen “nấu ăn ngon”. Bởi vì, đây là lời ca ngợi thành thực, vừa là lời cảm ơn kín đáo của một người vừa nhận quà tặng. Với người phụ nữ thời ấy, biết khổ luyện nghệ thuật nấu ăn để làm quà tặng cho đời, đấy chẳng những là bổn phận, mà còn là vinh quang đích thực cần phải chinh phục. Đó là quan niệm của bà Tùng Thiện Vưong khi đề thơ cho Thực Phổ Bách Thiên:
Dâu, con, cháu, chắt coi mà học,
Một miếng ăn ngon, tiếng để đời.

Xuân Ất Hợi, 1995 

Hoàng Phủ Ngọc Tường



Thứ Ba, 26 tháng 6, 2018

Đường sắt Nhật Bản dùng hiệu ứng âm thanh và sóng siêu âm bảo vệ hươu nai hoang dã

Hệ thống đường sắt Nhật Bản nổi tiếng thế giới với độ chính xác cao về thời gian. Các đoàn tàu chở hàng tỷ người trên khắp đất nước mỗi năm nhưng việc sai lệch một vài giây hiếm khi xảy ra. Và hiện nay, đường sắt Nhật Bản còn dùng cả hiệu ứng âm thanh và sóng siêu âm bảo vệ hươu nai hoang dã.



(Ảnh: trendyintokyo)

Theo truyền thuyết Thần đạo (đạo Shinto) của Nhật Bản, hươu nai là sứ giả của thần linh và là hiện thân của những điều linh thiêng nên được người dân Nhật tôn trọng, và số lượng hươu nai ở Nhật Bản rất lớn. Vậy nên, động vật hoang dã xuất hiện trên đường ray và nhất là hươu nai là vấn đề mà các ngành vận tải đường sắt Nhật Bản phải đối mặt từ lâu.
Với khoảng 20.000 km (12.000 dặm) đường ray trên khắp Nhật Bản, việc giữ để động vật hoang dã không đi vào khu vực đường ray có thể được xem là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn.


Trên các đường ray ở Nhật thường xuất hiện động vật hoang dã, đặc biệt là hươu nai. (Ảnh: Twitter.com)

Theo Bộ Đất đai, Hạ tầng, Giao thông và Du lịch Nhật Bản, số lượng động vật hoang dã tử vong do các vụ tai nạn đường sắt là 613 vụ vào năm 2016, khiến lịch trình của đoàn tàu bị chậm trễ ít nhất 30 phút. Tất nhiên, điều tồi tệ hơn cả là các sự cố đó cướp đi mạng sống của các loài động vật.
Từ năm 2002 đến năm 2014, đường sắt Nhật đối mặt với rủi ro gây ra bởi những loài động vật nhỏ như rùa với tổng cộng 13 sự gián đoạn đường sắt ở quận Nara phía tây. Tuy nhiên, theo Matt Hickman của MNN vào năm 2015, Công ty Đường sắt Tây Nhật Bản (JR West) đã làm việc với các nhà nghiên cứu của Suma Aqualife Park ở Kobe để phát triển một giải pháp đơn giản mà hiệu quả: lắp đặt các rãnh tùy chỉnh cho phép rùa vượt qua các đường ray một cách an toàn.



(Ảnh: Twitter.com)

Ngoài việc đối mặt với rùa, đường sắt Nhật Bản còn phải đối mặt với những kẻ ‘xâm nhập’ nguy hiểm hơn và hươu nai – loài động vật này đã trở nên đặc biệt phiền hà ở một số vùng ở Nhật Bản, đôi khi chúng dường như còn chủ động tìm kiếm đường sắt. Nhiều con chỉ muốn di chuyển quanh nơi cư trú của chúng để tìm kiếm thức ăn hoặc bạn tình, nhưng cũng có những con bị đường sắt ‘thu hút’ do chúng cần bổ sung sắt cho cơ thể, chúng liếm những mạt sắt nhỏ bám lại trên đường ray do bánh của đoàn tàu chạy qua đường ray tạo ra.
Người ta đã thử áp dụng nhiều cách khác nhau để ngăn chặn hươu nai tiếp cận khu đường ray, từ việc thiết lập các rào và bố trí các nguồn sắt thay thế và rải phân sư tử dọc các tuyến đường sắt. Kế hoạch thứ hai đã phải ngừng thực hiện vì chúng bốc mùi quá mạnh để có thể sử dụng trong các khu dân cư và bởi nước mưa sẽ rửa trôi nó. Những nỗ lực dùng dây thừng, hàng rào, đèn flash và nhiều thứ dùng để ngăn cản hươu nai đều thất bại.
Tuy nhiên, gần đây chiến thuật mới đã được triển khai với hy vọng làm giảm các cuộc đụng độ với hươu nai:
Sóng siêu âm
Yuji Hikita, một nhân viên của tổ điện thuộc Công ty Đường sắt Kintetsu, đã chứng kiến một cảnh thương tâm xảy ra vào năm 2015 qua video giám sát trên tuyến Osaka của Kintetsu. Một gia đình hươu bước vào đường ray vào ban đêm, và một trong ba con hươu đang mang thai đi phía sau đàn đã bị đoàn tàu đâm trúng và tử vong. Theo tờ Asahi Shimbun, con hươu cha đã nhìn chằm chằm vào con nai đang mang thai nằm đó trong 40 phút.



(Ảnh: Good Design Award/japan Institute of Design Promotion)

Sau khi chứng kiến cảnh tượng thương tâm này, Hikita đã cố gắng vắt óc nghĩ ra các cách để ngăn tình huống này xảy ra thường xuyên. Những vụ tàu hỏa đâm vào hươu nai đang gia tăng trên nhiều tuyến đường sắt thuộc miền núi của Kintetsu, số liệu được ghi nhận cho thấy có sự gia tăng từ 57 con vào năm 2004 lên 288 con vào năm 2015, theo báo cáo của Asahi Shimbun.
Anh nói với Asahi Shimbun rằng lúc đó anh nghĩ: “Bất chấp mọi nỗ lực ngăn cản hươu nai của chúng tôi, loài động vật này vẫn đi vào đường ray. Và tôi nghĩ tại sao chúng ta không làm đường bắc ngang qua đường ray cho hươu nai?”


Công ty Đường sắt Kintetsu có tuyến đường sắt lớn thứ hai ở Nhật Bản (Ảnh: Basico/Shutterstock)

Hikita bắt đầu nghiên cứu về hươu nai, anh thấy nhiều dấu móng chân in hằn và phân dọc theo hai bên đường ray. Anh đã nảy sinh một ý tưởng, và hai năm sau, ý tưởng này đã dành Giải thưởng Thiết kế Xuất sắc 2017 của Viện Xúc tiến Thiết kế Nhật bản.
Nó đã được đưa vào áp dụng ở tuyến Osaka. Nơi đây có hàng rào cao 2 mét được lắp chạy dọc theo đường ray, cứ 20-50 mét lại có một khoảng hở. Ở những chỗ trống này, sóng siêu âm sẽ tạo ra các hàng rào tạm thời vào những thời điểm dễ xảy ra tai nạn nhất – bình minh và hoàng hôn, trừ lúc đoàn tàu đang nghỉ đêm. Và vì con người không thể nghe thấy âm thanh này, nên nó gần như ít gây phiền hà cho khu vực dân cư hơn là biện pháp dùng phân sư tử để xua đuổi hươu nai


Theo Asahi Shimbun, ba trong số những điểm giao này được thiết lập trên tuyến Osaka Line ở vùng núi Tsu, thủ phủ của tỉnh Mie. Đoạn đường đó đã xảy ra 17 vụ tàu đâm vào hươu nai trong năm 2015, nhưng chỉ có một vụ đã được báo cáo kể từ khi có đường cắt ngang dành cho hươu cách đây hơn một năm.
Kintetsu cũng lắp đặt lối đi dành riêng cho hươu nai trên một tuyến đường tương tự khác ở Nara Prefecture, ở đây các vụ tại nạn liên quan đến hươu nai giảm từ 13 vụ năm 2016 xuống còn 2 vụ trong vòng 8 tháng. Một nhà đánh giá của Giải thưởng Thiết kế Xuất sắc cho biết vào năm 2017 nói: “Đây là một ví dụ tuyệt vời về cách các công ty đường sắt có thể giải quyết sự cố xảy ra do tàu hỏa va chạm với hươu nai.”
Theo Asahi Shimbun, ý tưởng này vẫn cần thử nghiệm thêm nữa, nhưng nó đã thu hút sự quan tâm của một số công ty đường sắt khác. Năm ngoái, JR West đã bắt đầu thử nghiệm các đoạn đường dành cho hươu nai băng qua đường sắt ở một khu vực đường ray của Sanyo Line ở quận Okayama.

Tiếng khịt và sủa của loài hươu, nai
Các nhà nghiên cứu thuộc Viện nghiên cứu Kỹ thuật đường sắt (RTRI) đã thử nghiệm một giải pháp sáng tạo khác, họ sử dụng các hiệu ứng âm thanh giống như tiếng khịt và sủa của loài hươu nai.
Theo BBC, sự kết hợp âm thanh này hóa ra lại là một cách hay để khiến loài nai sợ hãi. Ban đầu, cứ ba giây lại phát ra một tiếng hươu nai khịt mũi để thu hút sự chú ý của chúng, theo sau đó là một đoạn clip 20 giây tiếng sủa, và nó đủ để xua đuổi hươu nai.
Các viên chức của RTRI cho biết kết quả triển khai ban đầu này được ghi nhận và khuyến khích, và thực tế tiếng khịt và sủa này đã kiến số lượng hươu nai đi trên đường ray giảm khoảng 45%. Theo ý kiến của Asahi Shimbun, ý tưởng này dựa trên hành vi của nai tự nhiên, bao gồm “thói quen sủa những tiếng ngắn, chói tai để cảnh báo những con nai khác khi chúng nhận thức được nguy hiểm”.
Viện hy vọng sẽ tiến hành các thí nghiệm trên diện rộng trong toàn bộ hệ thống đường sắt, và nếu có hiệu quả, họ có thể thiết lập các trạm cố định để phát tiếng khịt và sủa dọc theo các tuyến đường sắt ở những nơi thường thấy hươu nai xuất hiện. Tiếng ồn này được cho là không gây ồn ào cho người dân ở gần đường ray.

Theo MNN


Minh Phúc


Chế tạo ra loại “gỗ siêu cứng” có thể thay thế cho thép

Các kỹ sư ở Hoa Kỳ đã tìm ra cách để làm cho gỗ cứng hơn và dai hơn 10 lần, một loại vật liệu bền chắc hơn cả nhiều loại hợp kim titan.


Liangbing Hu (trái) và Teng Li, các kỹ sư thuộc đại học Maryland, đã tìm ra cách làm cho gỗ cứng và dai hơn 10 lần. (ảnh: ĐH Maryland)

“Cách xử lý gỗ mới này làm cho nó cứng hơn 12 lần và dẻo dai hơn 10 lần so với gỗ tự nhiên,” ông Liangbing Hu thuộc khoa cơ khí, ĐH Maryland cho biết. Ông cũng là người đứng đầu nhóm nghiên cứu, và thành quả này của họ đã được đăng tải vào ngày 8/2 trên tạp chí Nature.
“Loại vật liệu này có thể cạnh tranh với thép và thậm chí các hợp kim titan, nó rất cứng và bền chắc. Nó có thể so sánh với sợi cácbon, nhưng rẻ hơn nhiều.”
“Loại vật liệu này vừa cứng vừa dẻo dai, hai đặc tính thường trái ngược nhau trong tự nhiên,” Teng Li, đồng trưởng nhóm, cho biết. Nhóm của ông đã đo lường các đặc tính cơ học của gỗ đặc. “Nó cứng như thép, nhưng nhẹ hơn gấp 6 lần. So với gỗ tự nhiên, cần một năng lượng gấp 10 lần mới bẻ gãy được nó. Loại vật liệu này thậm chí còn có thể uốn cong và đúc theo khuôn tại giai đoạn đầu của quá trình xử lý.”


(Ảnh: ĐH Maryland)

Nhóm cũng đã kiểm tra so sánh bằng cách bắn những đầu nhọn tương tự như đạn vào vật liệu gỗ mới này và gỗ tự nhiên. Kết quả cho thấy, đầu đạn bắn thẳng xuyên qua gỗ tự nhiên. Còn đối với loại gỗ đã qua xử lý, đầu nhọn chỉ xuyên qua được một nửa đường.
“Các loại gỗ mềm như gỗ thông hoặc gỗ bấc (balsa), lớn nhanh và thân thiện với môi trường, có thể thay thế cho các loại gỗ đặc nhưng lớn chậm như gỗ tếch trong đồ nội thất hoặc xây dựng,” ông Hu cho biết.
Phương pháp xử lý này có thể áp dụng cho nhiều loại gỗ khác nhau và cũng khá dễ thực hiện.
Cốt lõi của quá trình xử lý là việc tách lignin, một loại keo giữa các tế bào gỗ. Tuy nhiên, chỉ khi loại bỏ một lượng vừa đủ lignin thì mới tối đa hóa độ cứng của gỗ, còn bỏ đi quá ít hay quá nhiều lignin đều sẽ không đạt tới được độ cứng tối đa.
“Loại gỗ này có thể được sử dụng trong xe hơi, máy bay, các công trình xây dựng… bất cứ ứng dụng nào có dùng thép trong đó,” ông Hu bổ sung. Nếu xét tới sự đa dạng và sẵn có của gỗ cũng như các thực vật giàu xenlulozơ khác, nghiên cứu này mở ra rất nhiều hướng cho chúng ta sáng tạo.

Theo sciencedaily.com,


Phong Trần