Chủ Nhật, 13 tháng 5, 2018

Tầm nhìn vĩ đại của Lý Quang Diệu

Posted by khatvongmongmanh.blogspot.com 00:01, under | No comments

23/3 là ngày kỷ niệm một năm ngày ông Lý Quang Diệu từ trần. Tư duy và tầm tư tưởng của vị thủ tướng sáng lập Singapore vẫn là điều mà nhiều nước châu Á hướng tới và học tập.


Cố thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu trong một cuộc phỏng vấn năm 2005. Ảnh: Asia One

Cuộc chia sẻ của ông Lý với Fareed Zakaria, nhà báo nổi tiếng của Time Magazine và CNN trên Foreign Affairs cách đây 20 năm vẫn cho ta thấy những tư duy sắc sảo của chính trị gia hàng đầu châu Á trong suốt thế kỷ 20 này.
- Ông không coi nước Mỹ như là mô hình cho các nước khác.
- Lý Quang Diệu: Là một người Đông Á nhìn vào nước Mỹ, tôi thấy cả những nét hấp dẫn và không hấp dẫn. Ví dụ, tôi thích mối quan hệ tự do, thoải mái và mở giữa mọi người bất chấp địa vị xã hội, sắc tộc và tôn giáo. Và những điều tôi luôn ngưỡng mộ nước Mỹ là độ cởi mở nhất định trong tranh luận cái gì là tốt, là xấu đối với xã hội; trách nhiệm giải trình của quan chức, không có kiểu bí mật và dọa dẫm như một số chế độ.
Nhưng nhìn tổng thể, tôi thấy có những điều không chấp nhận được trong xã hội này: súng ống, thuốc phiện, tội phạm bạo lực, người vô gia cư, các hành vi lố lăng ngoài đường, nói tóm lại là xã hội đổ vỡ. Sự mở rộng quyền tự do cá nhân thích hành động hay phá phách thế nào tuỳ ý gây ra tổn thất với trật tự xã hội.
Ở phương Đông, mục đích chính luôn là trật tự xã hội ổn định để mọi người có thể có hưởng tự do của mình. Sự tự do này chỉ tồn tại trong xã hội ổn định chứ không phải ở đất nước của tranh cãi và vô chính phủ.
Để tôi cho anh ví dụ cho thấy sự khác biệt tổng thể giữa Mỹ và Singapore. Mỹ có vấn đề thuốc phiện nghiêm trọng. Giải quyết nó thế nào? Mỹ đi vòng quanh thế giới giúp các tổ chức chống thuốc phiện để tìm cách ngăn chặn những người cung cấp.
Họ chi tiền cho trực thăng, các chất diệt cây,... và khi bị đối đầu, họ bắt sống tổng thống Panama rồi mang về xét xử ở Florida. Singapore không có lựa chọn đó. Chúng tôi chẳng thể đến Myanmar rồi bắt ông trùm ở đó. Điều chúng tôi làm là cho phép hải quan và cảnh sát nếu thấy ai đó nghi ngờ phê thuốc là lập tức yêu cầu anh ta thử nước tiểu.
Nếu nước tiểu dương tính, anh ta phải đi cai nghiện ngay. Ở Mỹ anh làm vậy thì bị coi là xâm phạm quyền tự do cá nhân và bị kiện ngay tức khắc.
Quyền cá nhân ở Mỹ được coi là bất khả xâm phạm. Nhưng chẳng ai quan tâm khi quân đội đến và bắt tổng thống của một nước khác rồi đưa đến Florida và ném ông ta vào tù. Tôi chẳng thể nào hiểu được.
- Công bằng mà nói 25 năm trước ông ngưỡng mộ nước Mỹ. Vậy theo ông, chuyện gì đã xấu đi?
- Đúng, mọi thứ thay đổi. Tôi mạo muội nói là đó sự xói mòn cơ sở đạo đức của xã hội và sự mất đi trách nhiệm cá nhân. Truyền thống tự do, tri thức mà phát triển sau Chiến tranh Thế giới II cho rằng con người đã đến trạng thái hoàn hảo mà mọi thứ sẽ tốt hơn nếu con người thích làm gì thì làm. Thực tế thì chuyện đó không đúng. Có những điều cơ bản về con người mà sẽ không bao giờ thay đổi.
Con người cần những ý thức đạo đức nhất định về đúng và sai. Có những thứ là xấu xa. Anh đơn giản là xấu xa, dễ làm những việc xấu và phải chặn anh không làm những việc xấu vậy. Người phương Tây từ bỏ những nền tảng đạo đức của xã hội, tin rằng mọi vấn đề có thể giải quyết bằng một chính phủ tốt – đây là điều mà phương Đông chúng tôi không bao giờ tin.
Mô hình châu Á
- Ông nói điều ông lo lắng thật sự là không nên áp đặt hệ thống của các nơi khác vào hệ thống này vì nó sẽ không hiệu quả được. Có mô hình nào mà khả dĩ cho phát triển cả về chính trị và kinh tế? Có cái gọi là mô hình châu Á?
- Tôi không nghĩ là có mô hình châu Á như vậy. Nhưng xã hội châu Á khác xã hội phương Tây. Có sự khác biệt cơ bản giữa tư duy phương Tây và tư duy Đông Á về xã hội và chính phủ. Khi nói Đông Á tôi nói Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, Việt Nam vốn là sự pha trộn giữa văn hoá Trung Quốc và Ấn Độ.
Xã hội phương Đông tin rằng cá nhân tồn tại trong khuôn khổ gia đình. Anh ta không tách rời ra bối cảnh đó. Gia đình là một phần của gia đình rộng lớn hơn, rồi bạn bè rồi xã hội. Người lãnh đạo hay chính quyền không cố cung cấp cho cá nhân những gì mà gia đình có thể.
Ở phương Tây, đặc biệt sau Chiến tranh Thế giới II, chính phủ được coi là quá thành công mà nó có thể hoàn tất mọi trách nhiệm mà vốn ở các xã hội kém hiện đại hơn, điều đó thường được thực hiện bởi gia đình. Cách tiếp cận này khuyến khích các loại hình gia đình mới, như bà mẹ đơn thân chẳng hạn, tin rằng chính phủ có thể hỗ trợ thay cho người bố vắng mặt.
Đó là sự táo bạo lớn. Cách mà tôi người Đông Á sẽ tránh. Tôi sẽ không dám thử nghiệm vậy. Tôi không chắc hậu quả là gì và tôi không thích những hậu quả mà tôi thấy ở phương Tây. Anh sẽ thấy quan điểm này được chia sẻ rộng khắp ở Đông Á. Không phải là chúng tôi không có các bà mẹ đơn thân ở đây.
Chúng tôi cũng rơi vào thách thức khi chúng tôi giáo dục phụ nữ, họ độc lập hơn về tài chính và họ không còn chấp nhận những cuộc hôn nhân không hạnh phúc nữa. Có sự lo lắng lớn khi chúng tôi có những thay đổi này, đặc biệt là gia đình. Đó là những viên gạch của xã hội.
Có câu thành ngữ của Trung Quốc khái quát vấn đề này: tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Tu thân nghĩa là tự lo bản thân, tự rèn luyện, làm mọi việc để mình trở nên có ích; tề gia là lo lắng cho gia đình; trị quốc là lo lắng cho đất nước; bình thiên hạ là tất cả dưới bầu trời đều thái bình. Đó là quan niệm cơ bản của văn minh chúng tôi. Chính quyền lên rồi chính quyền xuống, nhưng quan điểm này vẫn duy trì. Chúng tôi bắt đầu bằng sự tự túc của bản thân.
- Ông sẽ làm gì để giải quyết các vấn đề Mỹ?
- Tôi sẽ làm gì à? Trước hết anh cần một xã hội trật tự. Súng ống, thuốc phiện và tội phạm bạo lực tất cả đang đe doạ trật tự xã hội. Rồi trường học, anh có bạo lực trong trường học thì sẽ không thể có giáo dục được, anh cần phải giải quyết vấn đề đó. Rồi anh phải giáo dục quyết liệt để xây dựng một thế hệ những người có kỹ năng, thông minh, uyên bác để làm việc được hiệu quả.
Tôi muốn bắt đầu với những điều đơn giản, làm việc với cá nhân, nhìn anh ta trong bối cảnh gia đình, bạn bè và xã hội anh ta. Nhưng những người phương Tây thì nói tôi sẽ giải quyết vấn đề từ trên. Một công thức màu nhiệm, một kế hoạch lớn. Tôi sẽ vẫy chiếc đũa thần và mọi thứ sẽ tự giải quyết. Đó là lý thuyết thú vị nhưng chưa thể hiện được.
Trở về với cơ bản
- Ông không tin khả năng chính quyền giải quyết được các vấn đề nghiêm trọng của xã hội nhưng ông lại tin tưởng rằng chính quyền có thể thúc đẩy kinh tế và phát triển công nghệ. Đó có phải là sự mâu thuẫn không?
- Không. Chúng tôi tập trung vào các vấn đề cơ bản ở Singapore. Chúng tôi dùng gia đình để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tính toán cái mong muốn của mỗi người và gia đình anh ta vào kế hoạch của chúng tôi. Ví dụ, chúng tôi đã giúp cải thiện được trẻ rất nhiều nhờ giáo dục. Chính phủ có thể tạo ra môi trường để mọi người có thể sống hạnh phúc, thành công và có thể thể hiện mình.


Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long, con trai cố thủ tướng Lý Quang Diệu, cùng học sinh tham dự triển lãm quốc gia Singapore. Ảnh: AFP

Nhưng cuối cùng thì chính những gì họ làm với cuộc đời họ thì sẽ quyết định sự thành công hay thất bại về mặt kinh tế (của họ). Mặt nữa, chúng tôi may mắn là chúng tôi có văn hoá là niềm tin vào sự tiết kiệm, làm việc chăm chỉ, kính trọng cha mẹ, tôn kính gia đình mở rộng, và, trên hết, là tôn trọng trí thức và sự học.
Đương nhiên có nguyên nhân khác nữa cho thành công của chúng tôi. Chúng tôi có thể tạo ra tăng trưởng kinh tế vì chúng tôi tạo điều kiện cho những thay đổi nhất định khi chúng tôi di chuyển từ xã hội nông nghiệp lên xã hội công nghiệp. Chúng tôi có lợi thế là biết kết quả nó thế nào khi nhìn vào phương Tây và Nhật Bản.
Chúng tôi biết mình đang ở đâu và biết là mình đi đến đâu. Chúng tôi tự nhủ, “phải nhanh lên, phải xem có thể đến đó nhanh hơn”. Nhưng rất nhanh chúng tôi đối mặt với tình huống khác. Trong tương lai gần, chúng tôi sẽ đạt trình độ như Nhật Bản thì khi đó chúng tôi sẽ đi đâu tiếp. Làm sao chúng tôi có thể tăng tốc khi không biết là mình sẽ đi đến đâu. Đó là tình huống mới.
- Một số người nói rằng mô hình châu Á quá cứng nhắc để có thể thay đổi. Mô hình kiểu Mỹ thì rất linh động, để tự do buôn bán và thường xuyên thích nghi để phù hợp với thay đổi hơn là mô hình chính sách do chính quyền định hướng và hệ thống giá trị kiểu đạo Khổng.
- Đó là triết lý sống lạc quan và hấp dẫn, và tôi hy vọng nó thành sự thật. Nhưng nếu anh nhìn các xã hội qua cả ngàn năm thì anh sẽ thấy những mô thức căn bản. Nền văn minh Mỹ xuất phát tổ tiên những người hành hương, mô thức xã hội của họ là sự lạc quan và phát triển của chính phủ một cách tuần tự.
Lịch sử của Trung Quốc là của các triều đại mà lên xuống theo sự mở rộng, suy sụp của các xã hội. Và qua tất cả thăng trầm đó, gia đình, gia đình mở rộng, các họ hàng, giống như là cái bè cứu sinh của cá nhân. Các nền văn minh đã sụp đổ, các triều đại đã bị cuốn đi bởi các nhóm chinh phục khác nhau nhưng cái bè cứu sinh này đảm bảo cho nền văn minh tiếp tục duy trì và đi tới giai đoạn mới.
Không ai ở xã hội phương Đông tin rằng chính phủ có thể cung cấp tất cả. Chính chính phủ cũng không tin là vậy. Trong cuộc khủng hoảng kinh hoàng nhất, kể cả trong động đất và gió bão, thì chính các liên hệ con người sẽ giúp bạn vượt qua.
Nên quan điểm mà bạn nói rằng chính phủ luôn có khả năng tự làm mới mình trong các dạng thức mới thực tế chưa có trong lịch sử. Nhưng gia đình và cách thức con người liên hệ thì có cấu trúc và nó có thể giúp tăng cơ hội tồn tại của các thành viên của nó. Điều đó đã được thử thách qua cả ngàn năm và trong nhiều tình huống khác nhau.  
Văn hóa thành công
- Một yếu tố quan trọng của thành công kinh tế quốc gia trong quá khứ là văn hoá sáng tạo và thử nghiệm. Ở các nước Đông Á, tuy nhiên chính quyền thường ngần ngại trước môi trường tự do tư tưởng này. Điều này có ảnh hưởng gì tới hiệu suất của nền kinh tế?
- Về mặt học thuật, điều đó nghe có vẻ như là kết luận hợp lý nhưng tôi không chắc mọi thứ diễn ra vậy. Người Nhật chẳng hạn không hề kém trong chuyện tạo ra các sản phẩm mới. Tôi nghĩ các chính phủ nếu hiểu lý thuyết này và biết nhu cầu về việc thử nghiệm các lĩnh vực mới, phá vỡ các khuôn khổ hiện tại, họ có thể đảo ngược xu thế (giảm năng suất).
Người Đông Á, tất cả đều có chung tính kỉ luật rất cao, tôn trọng thày giáo, không nói lại với thày và thường học gạo, cần phải hiểu có nhu cầu tìm kiếm kiến thức như này để có công nghệ và sản phẩm mới. Dù thế nào, trong thế giới mà liên lạc điện tử giờ là ngày tức khắc, tôi không thấy cảnh mọi người tụt hậu phía sau. Bất cứ thứ gì mới đều cũng lan đi rất nhanh, dù đó là công nghệ siêu dẫn hay là lối sống mới.
- Ông có đồng ý với báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB) về thành công của kinh tế Đông Á mà theo tôi hiểu họ kết luận rằng tất cả các chính phủ thành công với các chính sách cơ bản, khuyến khích tiết kiệm và đầu tư, giữ lạm phát thấp, có nền giáo dục chất lượng cao...
- Tôi nghĩ WB có công việc rất khó. Họ phải viết những báo cáo rất phức tạp kiểu vậy. Nhưng có những yếu tố văn hoá mà rất ít được đề cập trong khi nó đáng được để ý hơn. Điều đó sẽ cho báo cáo có chiều sâu hơn và không bị chung chung vậy. Và như vậy thì báo cáo sẽ chính xác hơn, ví dụ để giải thích sự khác biệt giữa Philippines với Đài Loan chẳng hạn.
- Nếu văn hoá quan trọng vậy, thì những nước có văn hoá rất khác có thể sẽ không thành công như các nước Đông Á? Ông không hy vọng gì về các nước trên thế giới đang tự do hoá nền kinh tế của họ?
- Việc làm đúng những chính sách cơ bản có thể giúp, nhưng các xã hội khác sẽ không thể thành công như Đông Á vì họ thiếu những động lực nhất định. Nếu anh có nền văn hoá mà không chú trọng vào việc học, vào tri thức, chăm chỉ, vào tiết kiệm, hạn chế vui chơi để phấn đấu cho tương lai thì sự tiến bộ sẽ chậm hơn nhiều.
Nhưng anh biết đấy, các kết luận của WB là một phần của văn hoá Mỹ, và phần nào đó là của các tổ chức quốc tế. Họ phải đưa ra những kết luận kiểu rất nhạt nhẽo và chung chung, mà tôi thấy không hài lòng vì nó chẳng giải quyết các vấn đề thực. Nó đưa ra những giả thuyết hi vọng rằng tất cả con người đều bình đẳng, mọi người trên thế giới đều như nhau.
Nhưng điều đó không đúng. Các nhóm người khác nhau có những tính cách khác nhau khi họ đã tiến hoá cả ngàn năm trong tách biệt. Gen và lịch sử tương tác nhau. Người Da Đỏ Mỹ về mặt gen hoàn toàn giống người Mongoloid của Đông Á, người Trung Quốc, Triều Tiên và Nhật Bản. Nhưng một nhóm bị tách biệt ra khi eo biển Bering tách rời. Không có cầu nối cuối cùng đó, họ bị cô lập hoàn toàn ở Bắc Mỹ cả ngàn năm.
Nhóm khác, ở Đông Á, đối mặt liên tiếp với các cuộc xâm chiếm của Trung Á và liên tục tương tác với các nhóm người đi và đến. Hai nhóm này có thể có những tính cách giống nhau nhất định, ví dụ như khi anh đo kích thước não bộ, nhưng khi anh tìm hiểu sẽ thấy ngay là họ khắc nhau, đặc biệt trong sự phát triển về tư duy logic, các giá trị văn hoá.
Nếu anh bỏ qua các vấn đề này vì các lý do chính trị thì tự bản thân anh đặt mình vào bãi mìn rồi. Đây là điều dẫn tới những thất vọng về chính sách xã hội mà vốn bắt đầu ở Mỹ với rất nhiều hào hứng và kỳ vọng nhưng cuối cùng đạt được kết quả rất hạn chế.
Mọi người không muốn nhìn sự vật như thực tế trái khoáy của nó.
- Văn hoá có thể quan trọng nhưng nó có thay đổi. Mô hình châu Á có thể là hiện tượng chuyển giao. Dù gì thì phương Tây cũng trải qua giai đoạn thế kỉ 18-19 mà họ là tư bản và có sự tham gia hạn chế trong nền dân chủ. Giới cầm quyền khi đó cũng lo lắng, giống như ông bây giờ, rằng có “quá nhiều” dân chủ” và có “quá nhiều” quyền cá nhân sẽ làm bất ổn trật tự. Nhưng khi các xã hội đó hiện đại hoá và kinh tế phát triển thì sẽ mở rộng ra các lĩnh vực khác của xã hội, mọi thứ thay đổi. Chẳng phải Đông Á đang thay đổi vì tầng lớp trung lưu mở rộng đòi hỏi có tiếng nói về tương lai của chính họ.
- Có sự thay đổi đột ngột ở Đông Á. Chúng tôi là các xã hội nông nghiệp và công nghiệp hóa chỉ trong 1-2 thế hệ. Những gì diễn ra ở phương Tây trong hơn 200 năm thì giờ diễn ra ở đây chỉ trong chưa đến 50 năm. Tất cả mọi thứ dồn nén và xung đột trong khoảng thời gian cực ngắn nên sẽ có những bất cập và sai sót.
Nếu anh nhìn các nước đang phát triển nhanh, Hàn Quốc, Thái Lan, Hong Kong Và Singapore, có một hiện tượng đáng kinh ngạc: sự trỗi dậy của tôn giáo. Người Hàn Quốc đã theo đạo Cơ Đốc với số lượng lớn – tôi nghĩ phải đến hơn 24%. Và đây là đất nước mà chưa bao giờ bị một nước Cơ Đốc nào chiếm làm thuộc địa cả. Các truyền thống và tôn giáo cũ, thờ cúng tổn tiên, gọi hồn, không còn làm mọi người hài lòng nữa.
Có mong muốn tìm những giải thích cao hơn về mục đích của con người, tại sao chúng ta ở đây. Điều này thường diễn ra trong các giai đoạn mà xã hội có nhiều căng thẳng. Anh sẽ thấy nước Nhật cứ mỗi lần qua giai đoạn khó khăn thì sẽ có những nhóm tôn giáo mới xuất hiện và lan rộng...
Chúng ta đang trong giai đoạn thay đổi rất nhanh và cùng lúc chúng ta cùng hướng tới một mục tiêu mà chúng ta hi vọng có gắn kết với quá khứ của chúng ta.
- Nhưng chẳng nhẽ những thay đổi kinh tế công nghệ không thể tạo ra thay đổi trong đầu óc con người?
- Đó không chỉ những là đầu óc cần thay đổi mà cả những hệ thống giá trị. Để tôi kể chuyện này. Rất nhiều gia đình người Hoa ở Malaysia đã di cư trong giai đoạn căng thẳng khi có các cuộc bạo loạn sắc tộc hồi những năm 1960 để chuyển sang sống ở Úc và Canada. Họ làm vậy vì con cháu với hi vọng họ có nền giáo dục tốt hơn bằng tiếng Anh khi Malaysia chuyển ngôn ngữ chính của mình sang tiếng Malay.
Những đứa trẻ lớn lên, đến tuổi thanh niên và rời nhà. Rồi đột ngột cha mẹ thấy sự trống trải (khi con rời đi). Họ cho con cái nền giáo dục hiện đại bằng tiếng Anh và cùng lúc đó thì mất luôn con cái mình. Đó là trải nghiệm rất sốc.
Ở Singapore cũng có những thay đổi vậy nhưng ít kịch tính hơn. Chúng tôi đang nuôi con cái trong hoàn cảnh khác so với thời chúng tôi lớn lên.
- Ông vẫn nói kiến thức, lối sống và văn hoá lan truyền rất nhanh trong thế giới này. Chả nhẽ ý tưởng về dân chủ quyền con người lại không lan truyền?
- Không nên tranh luận về mặt ngữ nghĩa đó. Hệ thống chính phủ ở Trung Quốc sẽ thay đổi. Ở Hàn Quốc, Đài Loan, Việt Nam cũng sẽ có thay đổi. Thay đổi cũng đang diễn ra ở Singapore. Nhưng kết cục thì họ cũng sẽ không thành hệ thống kiểu Mỹ, Anh Pháp hay Đức.
Chúng tôi đang tìm kiếm gì? Một dạng chính phủ mà thuận tiện, vì nó đáp ứng nhu cầu của chúng tôi, không mang tính đàn áp và tối đa hoá cơ hội. Và dù anh có mỗi người một lá phiếu, hay một số người một lá phiếu,... Tôi thì không tin hoàn toàn mỗi người một lá phiếu là tốt. Chúng tôi làm điều đó vì đó là thứ người Anh áp đặt lại và chúng tôi chưa thấy nhu cầu để thay đổi điều đó.
Về cá nhân thì tôi tin rằng, chúng ta sẽ có hệ thống tốt hơn nếu chúng ta cho tấ cả những người trên 40 tuổi và có gia đình hai lá phiếu vì lúc đó anh ta cẩn trọng hơn và việc bỏ phiếu cũng vì con cái anh ta. Anh ta sẽ cẩn trọng bỏ phiếu hơn là những chàng trai trẻ dưới 30 tuổi mà chẳng biết gì.
Nhưng chúng tôi chưa thấy thay đổi là cần thiết. Nếu nó cần thiết chúng tôi sẽ làm điều đó. Rồi cùng lúc, khi một người đã trên 65, khi đó chúng ta lại có vấn đề. Tuổi lý tưởng là từ 40-60, và đến 60 tuổi thì họ nên quay trở lại 1 phiếu. Nhưng làm vậy thì sẽ rất khó để sắp xếp.
Xung đột giữa các cường quốc hủy hoại thế giới
- Phương Tây không chỉ là nơi tạo ra thịnh vượng lớn nhất cho thế giới trong suốt 4 thế kỷ qua, nó đồng thời là nơi sản sinh ra nhiều cuộc chiến nhất. Ngày nay Đông Á là nơi tập trung của tăng trưởng nhanh và một loạt các cường quốc mới cạnh nhau. Với những hệ thống chính trị khác nhau, những thù hằn từ lịch sử, cạnh tranh lãnh thổ và lượng vũ khí ngày càng nhiều. Liệu quá khứ của châu Âu có trở thành tương lai của Đông Á?
- Không, vậy thì đơn giản quá. Đây là một phỏng đoán của tôi, một lý do tại sao mà tăng trưởng ở Đông Á kéo dài trong nhiều năm hơn là vì con người và chính phủ Đông Á đã học được những bài học lớn về sự tàn khốc của chiến tranh.
Không phải các cuộc chiến toàn diện như ở Hàn Quốc mà chiến tranh du kích ở Việt Nam, ở Campuchia, ở các cánh rừng ở Malaysia, Thái, Indonesia và Philippines. Chúng tôi biết rằng càng tham chiến nhiều thì anh càng nghèo và kiệt quệ. Ở các nước chiến tranh: thế giới cứ lướt đi qua họ. Đó là bài học mà sẽ còn có ý nghĩa rất lâu, ít nhất là với thế hệ này.
- Một trong những yếu tố gây bất ổn nhất đối với hệ thống thế giới chính là sự vươn lên của một siêu cường mới. Liệu sự vươn lên của Trung Quốc có thích nghi được vào trật tự của Đông Á?
- Tôi không nghĩ chúng ta có thể nói chỉ về trật tự Đông Á. Câu hỏi là: liệu thế giới có phát triển được hệ thống mà một nước quy mô như Trung Quốc có thể tham gia vào hệ thống điều hành hoà bình và ổn định thế giới? Khoảng 20-30 năm tới, tôi nghĩ các cường quốc lớn sẽ phải thống nhất với nhau về cách kiểm soát hoà bình và ổn định, làm thế nào để tạo trật tự mà vừa hợp lý và vừa công bằng.
Chiến tranh giữa các nước nhỏ không huỷ hoại cả thế giới mà chỉ huỷ hoại chính họ mà thôi. Nhưng xung đột lớn giữa các cường quốc sẽ huỷ hoại thế giới rất nhiều lần. Đó là những điều quá nguy hại và không nên nghĩ đến.
Tôi vẫn nghĩ con đường tiến lên tốt nhất là qua Liên Hợp Quốc. Nó không hoàn hảo nhưng có gì thay thế không?
- Có gì mâu thuẫn giữa vai trò ông là chính trị gia và vai trò mới như là học giả và bình luận trên mọi vấn đề? Là chính trị gia thì ông mong nước Mỹ là điểm cân bằng lớn cho khu vực, một đất nước được kính sợ trên toàn thế giới. Là học giả, thì ông chỉ trích mô hình Mỹ rất nhiều và có vẻ như là làm ảnh hưởng rất nhiều uy tín của nước Mỹ.
-  Điều đó là lố bịch. Tôi không bao giờ muốn hạ thấp uy tín nước Mỹ. Nước Mỹ có vai trò đặc biệt trong lịch sử thế giới. Là siêu cường duy nhất, với vũ khí hạt nhân và là chính phủ duy nhất không bị ảnh hưởng bởi chiến tranh trong khi các nước khác trong tro tàn. Bất cứ đế quốc cũ nào cũng sẽ cố duy trì khả năng chi phối của mình càng lâu càng tốt.
Nhưng nước Mỹ ngay từ đầu đã buộc các đối thủ của mình phục tùng, tạo ra các thay đổi công nghệ rồi chuyển giao các công nghệ này tự do và hào phóng cho châu Âu và người Nhật, tạo điều kiện để 30 năm sau họ thách thức lại chính nước Mỹ. Rồi tới 1975 thì nước Mỹ lại suy sụp. Đó cũng là chưa từng có trong lịch sử. Nhưng điều đó cũng không có nghĩa là chúng tôi ngưỡng mộ tất cả những gì về nước Mỹ.
Tôi nói thẳng này: nếu không có những điểm tốt mà phương Tây hướng dẫn, chúng tôi sẽ chẳng bao giờ thoát được lạc hậu. Chúng tôi sẽ vẫn là nền kinh tế lạc hậu trong xã hội lạc hậu. Nhưng chúng tôi chẳng muốn tất cả như phương Tây.
Ông Lý Quang Diệu, người sáng lập đảo quốc Singapore và làm thủ tướng từ 1959 cho đến năm 1990. Năm 1965, khi Singapore tách khỏi Malaysia, GDP nước này chỉ ngang với Chile, Argentina và Mexico. Hiện nay, GDP đầu người của Singapore gấp 4-5 lần các nước Latin đó và là một trong những nước có thu nhập cao nhất thế giới.
Henry Kissinger từng viết Lý Quang Diệu là “một trong những bất cập của lịch sử về sự không tương xứng giữa khả năng của một số lãnh đạo và quy mô sức mạnh của đất nước đó.” Richard Nixon, sếp của Kissinger một thời, thì khẳng định thậm chí nếu ông Lý sống vào thời điểm khác và ở vùng đất khác, ông có thể “đạt tầm thế giới của Churchill, Disraeli, hay Gladstone” (các thủ tướng mang tính lịch sử của nước Anh thời đỉnh cao).

Thanh Tuấn

Thứ Bảy, 12 tháng 5, 2018

Singapore và câu chuyện phát triển thần kỳ

Posted by khatvongmongmanh.blogspot.com 23:42, under | No comments

 "Hồi là cậu bé vùng quê, tôi không nghĩ có thể trở thành giáo sư ở trường đại học hàng đầu thế giới", ông Freddy Boey nhớ về thời kỳ chuyển mình thần kỳ của Singapore sau độc lập.


Một góc Singapore ngày nay. Singapore là một thành bang (vừa là thành phố, vừa là quốc gia). Ảnh: FT


Theo giáo sư Boey, Singapore 50 năm trước đây không có nhiều đất, nước sinh hoạt ít ỏi, an ninh quân sự gần như số không, không có ngành công nghiệp đáng kể, nền giáo dục và các dịch vụ khác như chăm sóc y tế đều chưa tốt, an ninh rối ren, và cũng không có những chính sách hòa hợp tôn giáo.
"Những băng nhóm kín thường xuyên đi thu nợ tại khu phố Tàu, Geylang... Những người bán hàng rong bất hợp pháp đầy rẫy trên phố, bệnh dịch lây lan...", ông nhớ lại 
"Đó là Singapore mà tôi đã sinh ra và lớn lên. Chúng ta bị buộc rời khỏi một nước khác và trở thành quốc gia độc lập trong bối cảnh tình hình khu vực phức tạp. Nếu các bạn cũng được sinh ra cách đây 50 năm, bạn sẽ không bao giờ tưởng tượng đất nước có thể phát triển ngoạn mục như ngày nay",vị giáo sư chia sẻ.
Giáo sư Freddy Boey hiện là phó chủ tịch Đại học Công nghệ Nanyang (NTU, Singapore). Ngôi trường này vừa được trang Times Higher Education xếp hạng 55/100 trường đại học tốt nhất thế giới năm 2016. 
Phát triển thành trung tâm tài chính, giao thương
Câu chuyện "lột xác" của Singapore luôn được xem như một kinh nghiệm điển hình về sự phát triển thành công của một quốc gia trong thế kỷ 20.
Đảo quốc Singapore vốn không nhiều đất và nghèo tài nguyên, nhưng sau khi độc lập vào năm 1965, cựu thuộc địa của Anh hướng theo mục tiêu phát triển trở thành một trung tâm sản xuất và tài chính lớn. Những buổi ban đầu, các chính sách thuế thấp, ít hạn chế dòng vốn, cởi mở trong chính sách nhập cư khiến nơi đây trở thành điểm nóng thu hút nhà đầu tư.
Còn chuyên gia Josh Kurlantzick (Hội đồng quan hệ đối ngoại CFR) đánh giá trên kênh NPR (Mỹ) rằng Singapore chủ trương thương mại tự do và áp đặt rất rất ít rào cản thuế quan. "Lãnh đạo Singapore từng tự hào rằng bạn có thể thành lập doanh nghiệp tại đây chỉ trong 3 tiếng".
Ông Tony Nash, phó tổng giám đốc công ty tư vấn Delta Economics (Anh) ấn tượng với bộ máy chính phủ gồm nhiều những nhà kỹ trị xuất chúng của Singapore. "Họ quyết tâm thực hiện các chính sách để nâng cao cạnh tranh, thu hút nhân tài, và đánh giá dựa trên kết quả".
Nhắc đến sự thành công của Singapore ngày nay không thể không kể đến "người cha lập quốc", cố thủ tướng Lý Quang Diệu. Ông Lý được cho là nắm vai trò trung tâm trong công cuộc biến đổi Singapore.
Tạp chí Economist nhận xét, ông Lý luôn nỗ lực hành động để đạt được những mục tiêu tăng trưởng cao đề ra, khao khát biến Sinapore trở thành một điểm đến thu hút trong giới đầu tư, cũng như đối với nguồn nhân lực đẳng cấp thế giới.
Dưới thời ông Lý, Singapore nỗ lực nâng cấp cơ sở hạ tầng, áp dụng chính sách thuế thấp và minh bạch, xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch và hiệu quả, khuôn khổ pháp luật cứng rắn, đặc biệt là duy trình một Singapore "xanh và sạch". Tất cả những nền tảng này đã góp phần vào câu chuyện thành công kinh tế vượt bậc của Singapore.
Theo chuyên gia Kurlantzick, một trong những ngành công nghiệp nội địa quan trọng nhất của Singapore như đóng tàu, điện tử, ngân hàng thương mại... đã có nền móng khởi đầu vững chắc do chính phủ Singapore khi đó đã dùng đáng kể ngân sách để đầu tư trực tiếp vào những lĩnh vực này. 
Theo Channel News Asia, một trong những câu chuyện thể hiện tầm nhìn của ông Lý Quang Diệu là "canh bạc" 1 tỷ SGD vào năm 1975 để xây sân bay Changi mới. Khi đó, châu Á vừa trải qua giai đoạn khủng hoảng dầu mỏ 1973, tình hình khu vực Đông Nam Á có nhiều biến động, nhưng ông Lý Quang Diệu vẫn dồn tâm huyết vào dự án này.


Ga đi tại sân bay quốc tế Changi, Singapore. Ảnh: Straits Times

Ông ra lệnh phá hàng loạt các tòa nhà, san lấp đầm lầy, bồi lấp đất để phục vụ dự án. Kết quả, công trình sân bay hoàn thành trong 6 năm thay vì 10 năm như kế hoạch.
Ngày nay, "canh bạc" của ông Lý Quang Diệu đã được đền đáp to lớn, khi Singapore trở thành một điểm đến quan trọng của kinh tế, du lịch, đầu mối giao thông hàng không trọng điểm trong khu vực.
Tony Nash nhận định, việc trở thành một đầu mối giao thông hàng không và trung tâm vận chuyển đường biển của khu vực, cùng với nền quản trị công minh bạch và hiệu quả, đã giúp nâng cao vị thế của Singapore trở thành nơi đặt cơ sở của nhiều tập đoàn đa quốc gia tại châu Á.
Ông Lý cũng là người nhanh nhạy với những biến động của thế giới, từ đó biến rủi ro thành cơ hội để phát triển. Điển hình như giai đoạn "Cú sốc Nixon" năm 1971, khi giá USD rớt xuống mức thấp nhất kể từ Thế chiến 2, buộc Mỹ phải đơn phương phá giá USD và đình chỉ khả năng quy đổi USD ra vàng.
Ông Lý đã nhanh chóng chớp lấy cơ hội này để biến Singapore trở thành một trung tâm khu vực về giao dịch ngoại hối.
Kể từ năm 1968, chính phủ Singapore đã thực thi hàng loạt chính sách thu hút và ưu đãi thuế cho nhà đầu tư tài chính quốc tế, để hướng tới xây dựng “Thị trường đô la châu Á”.
Các chính sách này hoạt động hiệu quả giúp Singapore trở thành trung tâm tài chính vượt qua cả đối thủ gần nhất trong khu vực là Hong Kong. Đến năm 1990, Singapore trở thành 1 trong 4 trung tâm tài chính thế giới, chỉ sau London, New York và Tokyo.


Sở giao dịch chứng khoán Singapore. Ảnh: Today

Chính sách xã hội hiệu quả
Chính phủ Singapore quan tâm đẩy mạnh các chính sách xã hội như nhà ở, chăm sóc y tế, giáo dục. Do vậy cuộc sống người dân luôn được chăm lo và bảo đảm ở những điều kiện tốt nhất.
"Tôi nghĩ không còn nền kinh tế nào khác, ngay cả một số nước được cho là các con hổ ở châu Á, có nhiều chỉ số thống kê tốt về tăng trưởng nhanh chóng, tỷ lệ việc làm cao, và các chỉ số xã hội tích cực khác như tuổi thọ trung bình, giáo dục và nhà ở, đều tốt đẹp trong 20 năm đầu sau khi lập quốc", Linda Lim, nhà kinh tế học tại Đại học Michigan (Mỹ).
Lim cũng cho rằng, sự tăng trưởng thần kỳ của Singapore gắn chặt với những giá trị về sự hòa hợp ở một đất nước đa dạng tôn giáo, đa dạng sắc tộc. "Từ năm 1965, chúng ta đã có một xã hội đoàn kết vững chắc, được hỗ trợ bằng hệ thống chính sách phát triển nhân tài, để thúc đẩy hướng tới nền giáo dục tiêu chuẩn cao ở mọi cấp".
Giáo dục cũng là một trong những ưu tiên hàng đầu của ông Lý Quang Diệu nhằm tạo ra nguồn nhân lực kế cận có chất lượng cao. "Ông đã xây dựng hệ thống giáo dục chất lượng đẳng cấp thế giới, từ bậc tiểu học cho đến đại học. Điều này đã thay đổi hoàn toàn cuộc đời tôi", giáo sư Boey nói.
"Tôi không bao giờ dám mơ rằng một cậu bé nhà quê lại có thể đạt được như ngày hôm nay, ở đảo quốc Singapore nhỏ bé này, khi trở thành giáo sư của một trường đại học đẳng cấp thế giới. Công cuộc biến đổi Singapore của ông Lý Quang Diệu không chỉ giúp thay đổi đời tôi, mà còn cho các con, các cháu tôi", giáo sư Boey chia sẻ.


Trẻ em Singapore trong Ngày trồng cây. Ảnh: Straits Times

Ngoài ra, hình ảnh một Singapore xanh và sạch đã được ông Lý Quang Diệu vạch ra từ 50 năm trước. Khi đó, ông tin rằng hình ảnh Singapore sẽ không lẫn vào các nước thế giới thứ 3 chỉ bằng biện pháp đơn giản: trồng nhiều cây cối để phủ xanh đảo quốc.
Vị thủ tướng đầu tiên của đảo quốc luôn nhấn mạnh việc mở rộng độ che phủ của cây xanh để giảm hệ quả tiêu cực của quá trình đô thị hóa, đồng thời cải thiện chất lượng cuộc sống. 
Ngày 16/6/1963 là dấu cột mốc quan trọng trong chiến dịch trồng cây ở Singapore, khi ông Lý Quang Diệu tự tay cuốc đất để trồng một cây thành ngạnh. 
Các nhà sử học ví hành động trồng cây của ông Lý Quang Diệu giống như việc gieo những hạt giống đầu tiên của giấc mơ "khu vườn Singapore" xuống mảnh đất cằn cỗi trong quá khứ.
Poon Hong Yuen, chủ tịch Ủy ban quản lý công viên quốc gia Singapore (NParks), nói chiến dịch phủ xanh phải là phần thiết yếu trong quá trình xây dựng đất nước. 
"Một thành phố xanh với khâu quản lý, quy hoạch hiệu quả sẽ gửi tín hiệu tích cực đến các nhà đầu tư. Hơn nữa, nó cũng truyền cảm hứng đến người dân Singapore, khiến họ tự hào rằng họ đang sống trong một 'thành phố vườn'", ông Poon khẳng định.

Minh Anh

Quy hoạch của Singapore nhìn từ trên cao

Posted by khatvongmongmanh.blogspot.com 21:27, under | No comments

 Singapore luôn để lại ấn tượng trong du khách như một quốc gia xanh, sạch, đẹp, với sự ngăn nắp và quy củ trong thiết kế đô thị.


Nhiếp ảnh gia Willy Chandra đã ghi lại vẻ đẹp của Singapore từ góc nhìn thẳng đứng, trong đó có những khu đông dân cư như đảo Sentosa, khu Suntec City và Lion City.



Các công trình kiến trúc được thiết kế hài hòa với cảnh quan, như khu chưng cư này. Màu xanh nhạt của tòa nhà được màu đỏ của nền sân và màu xanh đậm của cây cối tôn lên.



Từ bỏ những tòa nhà đồ sộ nhưng tẻ nhạt trong quá khứ, Singapore đang hướng đến vẻ ngoài xanh và mang tính thẩm mỹ cao hơn.



Khu căn hộ cao cấp tràn ngập màu xanh từ sân đến nóc. 



Tổ hợp Suntec City nổi tiếng được xây dựng trong năm năm (1992-1997).



Suntec City nhìn từ trên cao giống như một công trình của thế giới tương lai, nằm giữa khu vực cây cối xanh tươi, rộng lớn.



Các ngôi nhà trên đảo Sentosa được thiết kế đồng nhất, đem lại vẻ đẹp hài hòa, dịu mắt.



Du thuyền ở cảng nổi tiếng của Singapore neo đậu đúng vị trí, gọn gàng và quy củ.



Dưới hiệu ứng ánh sáng và góc nhìn từ trên cao, đoạn giao lộ này tạo thành hình trái tim lãng mạn.



Singpore nổi tiếng là một trong những trung tâm tài chính của thế giới, với khí hậu nhiệt đới và nền văn hóa đa dạng.



Chính phủ Singapore đang nỗ lực biến đảo quốc sư tử trở thành “Thành phố trong vườn”, đem lại cuộc sống thân thiện với môi trường hơn cho người dân.



Khách sạn Marina Bay Sands là một trong những điểm đến hút khách nhất Singapore, với thiết kế độc đáo và nhiều tiện ích giải trí thú vị.

Hoàng Linh
Theo Daily Mail

Công cuộc lấp biển mở đất của Singapore

Posted by khatvongmongmanh.blogspot.com 20:34, under | No comments

Trong hàng trục năm qua, chính phủ Singapore luôn bị "ám ảnh" bởi chuyện phải tạo thêm không gian cho đất nước nhỏ bé với diện tích chỉ hơn 700 km2 này.


Với quốc gia có diện tích đứng thứ 192 thế giới, bằng 1/5 thành phố New York (Mỹ), thiếu đất là một nỗi lo luôn theo đuổi người Singapore. Từ khi trở thành một quốc gia độc lập cách đây 52 năm, Singapore đã tăng được diện tích đất của họ thêm 1/4, từ 580 km2 lên 717 km2. Đến năm 2030, chính phủ Singapore tham vọng sẽ mở rộng diện tích đất của họ lên 776 km2. Trong ảnh, dự án cải tạo đất để xây dựng siêu cảng Tuas nằm trên mặt nước.



Phần lớn diện tích của Singapore cao không quá 15 m so với mực nước biển. Vị trí này mang lại lo lắng cho các nhà hoạch định chính sách trong bối cảnh nước biển dâng lên vì biến đổi khí hậu. Các nhà khoa học dự đoán đến năm 2020, mực nước biển sẽ tăng lên 1,8 m trong khi bão dữ sẽ đập vào bờ nhiều hơn. Tại Singapore, những cung đường ven biển đang được tăng độ cao, nhà ga sân bay mới sẽ được xây cao hơn mực nước biển 5 m. Trong ảnh, một góc khác của công trình siêu cảng đang được xây dựng.


Trong 3 thập niên nắm quyền tại Singapore, cố thủ tướng Lý Quang Diệu luôn lo lắng việc tiềm năng của Singapore bị khóa chặt bởi diện tích của nó. "Trong một thế giới cá lớn nuốt cá bé, còn cá bé thì ăn lại tôm tép, Singapore phải trở thành một con tôm có độc", ông nói. Trên khắp Singapore là những công trình xây trên các phần đất được bồi đắp: Trung tâm Tài chính Vịnh Marina, sân bay Changi... Trong ảnh, hồ bơi trên tầng 57 của khách sạn Marina Bay Sands, nơi được xây dựng trên một phần đất mở rộng. 
  

Gardens by the Bay của Singapore, công trình năm trên phần đất hơn 1 km2 có được nhờ lấp biển. 
  

Một vài nước láng giềng đã "mệt mỏi" với việc làm nguồn cung cát cho Singapore trong công cuộc mở rộng diện tích của nước này. Indonesia, Malaysia và gần đây là Campuchia gần đã ngưng xuất khẩu cát cho Singapore và làm ảnh hưởng kế hoạch cải tạo đất tại đây. Trong 10 năm trở lại đây, 67 triệu m3 cát đã được xuất từ Việt Nam sang Singapore. 


Mặt khác, Singapore đang cố gắng bớt phụ thuộc vào nguồn cung cát từ nước ngoài. Họ dùng đất cát từ các công trình xây dựng ngầm để chuyển sang các công trình lấp biển. Phần lớn nguyên vật liệu dùng trong công trình siêu cảng biển sắp tới là đất đá từ các công trình xây dựng.


Phần lớn các dự án dưới lòng đất của Singapore sẽ được sử dụng cho mục đích công nghiệp vì hầu hết người dân sẽ không sẵn lòng chuyển xuống sinh sống dưới lòng đất.


Singapore hiện đã cải tạo đất và xây dựng công trình ở những nơi từng là vùng biển sâu 20 m. Họ đủ khả năng làm tương tự ở những nơi biển sâu 30 m. Tuy nhiên, cải tạo đất ở những vùng biển 40, 50 m sẽ rất khó khăn về mặt kỹ thuật và tốn kém về chi phí.


C.M. Wang, một giáo sư cơ khí tại Đại học Quốc gia Singapore, đã nảy ra ý tưởng biến mặt biển trở thành lợi thế của Singapore trong việc trở thành "trạm xăng của thế giới". "Các con tàu khởi hành từ Kênh đào Suez, lấy nhiên liệu từ đó và điểm tiếp theo chúng dừng tiếp nhiên liệu là Singapore", Wang nói. Vì vậy, ông đề xuất ý tưởng xây dựng những container khổng lồ trên biển để chứa dầu, vì nhiên liệu nhẹ hơn nước, chúng sẽ nổi.  


Không chỉ dầu, năm 2016, chính phủ Singapore đã cho lắp đặt những tấm pin mặt trời khổng lồ trên biển, bước đầu xây dựng một nhà máy điện nổi. 


Singapore có nguồn cát dự trữ chiến lược dùng cho trường hợp khẩn cấp. Nơi chứa cát dự trữ là một khu vực rộng lớn nằm im lìm tại khu Bedok của Singapore.  

Phương Thảo