Chủ Nhật, 1 tháng 10, 2017

Lạ kỳ con cá biết leo cây!

Posted by khatvongmongmanh.blogspot.com 03:15, under | No comments

Xấu xí không kém cạnh cá mặt quỷ nhưng thịt nó săn chắc, ngọt bùi mê mẩn. Đó là chuyện về con cá biết leo cây.
Đôi mắt cá lồi cao, vướng màn mây đục như sắp bị mù lòa. Mình cá lấm chấm những đốm màu xanh dương, khá giống dải ngân hà xa tít mù ở tận trời cao. Có con, nổi lằn đen mun giữa hông, lưng giương kỳ tựa cánh buồm con, bạnh má trông dữ tợn hơn cả rắn rồng.


Loài cá chậm tiến hóa, lại cho thịt thơm ngon thấu trời!

Chỗ cho không ai lấy
Đỏ con mắt kiếm một giọt mỡ trong thịt thòi lòi cũng không có. Con bự bằng nửa cổ tay người lớn, thường “phi” trên mặt nước xa hai - ba tấc nghe chủm chủm, khi hốt hoảng. Lúc thong thả, tụi nó trèo thoăn thoắt lên chảng ba gốc mấy cây: đước, mắm cao gần cả mét so với mặt bãi bùn. Thật lạ đời, cá cũng biết leo cây!
Cuối tuần, người bạn thổ địa Cần Giờ mang đặc sản lên đãi bạn bè phố thị. Ai cũng trố mắt ngạc nhiên, cứ luôn miệng hỏi tại sao về nó tới tấp.
Và khi những thố cá lạ bốc khói thơm chào bàn, cũng chính họ, tiếp đón thật nồng nhiệt.
Riêng chị bạn gốc Cần Thơ, vẫn hồ nghi liếc nhìn món có vẻ hấp dẫn kia. Chị bảo rằng, mạng lưới sông Hậu quê mình cũng “nhóc” (rất nhiều) đám cá biết leo cây này.
Đôi khi, chúng vừa ôm những gốc bập dừa nước vừa lắc lư cái đầu xấu hoắc. Cùng lúc đó, đôi bìm bịp cổ vàng đậu trên ngọn dừa nước, đã khan cổ hối con nước lớn chạy về thăm bãi bờ quen. Gặp con nước rong (nước lớn cực đại) đang ngon trớn “trườn” lên mặt bờ đê, tụi nó cũng trèo lên theo gọn bâng. Nhảy lấc khấc.
Thất vậy, mấy con vịt xiêm mái nghểnh cổ rình rượt, rỉa hụt hoài. Có “thím” niễng cổ có vẻ tiếc nuối, khi thấy con mồi phóng tủm xuống sông lặn mất.
Dịp nước ròng bỏ bãi, chúng liền rượt cắn đám còng con, đớp tép nhỏ thật ngoạn mục. Đôi khi, có cặp “trai tơ” hùng dũng trợn mắt, nhe răng lao vào cắn lộn túi bụi. Chắc chúng tranh giành địa bàn mưu sinh hay tập tành chứng tỏ ta đây số một với mấy con cái.
Có điều, thịt chúng tanh lòm, lớn tối đa cỡ ngón tay người lớn, chẳng ai thèm ăn.
Ấy vậy mà, chị lại gặp những con thòi lòi “đại ca”. Có con lớn hơn cả ngón chân cái chị, tại một nhà hàng sang trọng gần trung tâm Sài Gòn diễm lệ.
Nơi tìm không ra
Thấy mọi người ngon trớn gắp miếng thịt thòi lòi nấu canh chua, trắng hồng như thịt ếch đồng; bới cơm lia lịa chị cũng bạo gan nhón đũa gắp thử.
Nào ngờ: “Trời! Ngon thiệt mầy ơi!”, chị Thủy “lửa” kêu thảng thốt. Cùng một giống cá thòi lòi, chỗ thì đẹt ngắt - có cho thêm tiền người ta cũng chẳng chịu ăn. Chỗ lại lớn chà bá, ngon “muốn… chết” mới ngộ đời.
Từ đó, chị xóc đũa vào thố cá thòi lòi kho tiêu đều nhịp hơn. Còn anh bạn đồng nghiệp khác đi cùng, trước đó đã ăn lưng lửng bụng ở nhà vẫn lua thêm được hai chén cơm đầy.
Cho nên, những múi thịt cá ửng hồng đong đầy ngọt bùi, chắc nịch, đậm đà mùi mắm, thấm đẫm hương hành với chút nồng cay vị tiêu và hương ớt hiểm… thoáng chốc cũng lặn mắt tăm!
Được biết, giống thòi lòi nước lợ thường lớn con, có nhiều miệt duyên hải Đông - Tây Nam bộ. Song, đất vang danh về bao món ngon chân phương từ thòi lòi vốn thuộc miền Tây hào sảng.
Chẳng hạn, bắt cá nướng trui rồi đem rỉa lấy thịt nạc trộn với gỏi lá lìm kìm rừng Cần Giờ. Chất chua kết nối, có thể là vài muỗng canh nước cốt me chín hoặc đọt me non, thêm sương sương ít nước cốt chanh hay tắc tùy điều kiện cây nhà lá vườn của gia chủ. Nêm thêm hỗn hợp gồm: nước mắm, tỏi, ớt, đường… vừa miệng; dùng khai vị hoặc lai rai thật đã đời!
Dường như, những vật thực trong cùng sinh cảnh thường hỗ trợ, bọc lót cho nhau rất đẹp!
Có người bạn gốc Bắc, ở quận 2, TP.HCM, cũng mê con cá mắt lộ hết cỡ này. Anh từng xắn tay chế biến món thòi lòi om chuối xanh thật hao mồi! Chính sự cộng hưởng từ chất chua thanh bạo liệt của ít cơm mẻ, lẫn vị nồng ấm của riềng với vài muỗng cà phê mắm tôm ngon đã tôn tạo một phong vị mới cho thịt da con cá chậm tiến.
Hay bạn có dịp rong ruổi về tận cùng Đất Mũi, Cà Mau. Nhớ thử món khô thòi lòi cụ, cỡ 7- 8 con/kg, ướp hơi mặn, để lâu vô tư. Trước nó là của để dành của dân nghèo khó, nay đã phóng lên hàng đặc sản.
Nướng than đước, ăn kèm nồi cháo trắng gạo hương lài sạch, trồng quảng canh trong vuông tôm. Thần tiên lắm lắm! Hoặc tay xé miếng khô, miệng hớp ngụm trà “quạu” (đậm), đôi tai vểnh lên hết cỡ nghe các bậc bô lão giàu máu tiếu lâm ở đây thi nhau kể chuyện cười khiến người nghe ôm bụng cười mà trào nước mắt sống. Thật khó phai!
Theo anh Nguyễn Văn Trường, chủ vựa cá này ở gần cầu Dần Xây, huyện Cần Giờ, TP.HCM thòi lòi rất hung dữ. Nếu được nhốt chung, chúng sẽ cắn lộn đến te tua tơi tả. Do vậy, người ta phải may miệng chúng lại hoặc làm mù mắt cá. Tuy vậy, chúng có thể nhịn đói bốn - năm ngày mà vẫn tươi tỉnh.

VietBao.vn (Theo Người lao động >>>)


Những cái lạ trong ẩm thực Đà Lạt

Posted by khatvongmongmanh.blogspot.com 03:04, under | No comments

Thành phố cao nguyên bốn mùa đều lạnh mang lại cho du khách những cảm nhận rất riêng khi đặt chân đến. Một trong những điều rất riêng ấy phải kể đến nét ẩm thực độc, lạ của người dân nơi đây. Các món ngon của Đà Lạt lạ không chỉ ở tên gọi mà còn bởi cách chế biến và hương vị không lẫn vào đâu.
Bánh tráng nướng
Yêu thích bánh tráng nướng nên nhiều thực khách đặt cho món ăn này cái tên “Pizza Việt Nam”. Từ hình thức đến nguyên liệu làm bánh tráng nướng đều giống món hệt món pizza mà bạn vẫn thường ăn. Dần dần, bánh tráng nướng đã trở thành món ăn chơi không thể thiếu của phố núi Đà Lạt.


Món bánh pizza của Việt Nam được du khách quốc tế yêu thích.

Sự khác biệt của bánh tráng nướng nằm ở phần đế bánh. Chiếc “pizza Việt Nam” có đế bánh làm từ nguyên liệu là những chiếc bánh tráng Đà Lạt chính hiệu mỏng tang. Sau khi đặt trên vỉ than nướng giòn, người chế biến thêm chút hành lá xào nhuyễn, mỡ hành thơm nức, ruốc thịt đậm đà. Kế đến là lớp trứng gà tráng mỏng vàng ươm cùng các phụ liệu độc đáo khác cho lên trên cùng. Tùy theo sở thích của từng người mà nguyên liệu bánh tráng có thế khác nhau, từ bánh tráng nướng bò khô, đến bánh tráng pa tê, phô mai, thịt gà, xúc xích, sốt maiyonaise…
Để thưởng thức món ăn dân dã này khi có dịp tới Đà Lạt, bạn chỉ cần có từ 10.000 - 13.000 đồng là có ngay một chiếc bánh thêm trứng, phô mai và ruốc thịt.
Xắp xắp
Xắp xắp là món ăn đường phố chứa đựng hương vị cuộc sống bình dị của những người dân phố núi. Nhìn qua, xắp xắp gần giống như món nộm của miền Bắc hay gỏi khô của miền Nam. Tuy nhiên, món ăn này có một hương vị khác lạ, không lẫn với bất cứ nơi nào.


Xắp xắp đem đến cho du khách một sự trải nghiệm mới về hương vị.

Nguyên liệu để làm xắp xắp chủ yếu là đu đủ được bào thành sợi, khô bò, phổi bò, gan lợn được rim cùng ngũ vị, các loại rau thơm... Nếu như gỏi khô bò miền Nam có vị chua ngọt từ nước mắm, pha chế theo cách nêm nếm của người miền Nam, hay gỏi khô bò miền Trung đậm đà bởi nước mắm hơi đậm và rất cay, thì xắp xắp Đà Lạt như được chắt lọc vị tinh túy từ món ăn của cả hai vùng.
Nước chan trong món xắp xắp Đà Lạt đặc biệt được làm từ nước me có độ chua dịu vừa phải, không quá ngọt và không quá cay nên có nét đặc trưng rất riêng. Món ăn không thể thiếu loại rau húng quế hay lạc rang giã dập. Khi ăn bạn sẽ cảm nhận đu đủ giòn đượm vị mặn, chua, ngọt, cay cùng với vị bùi ngậy của lạc rang, thơm thơm của rau húng, khó lòng cưỡng lại nổi trong cái giá lạnh của xứ sở sương mù.
Sú kẹp nách
Không chỉ có cái tên độc đáo mà hình dáng và hương vị của sú kẹp nách cũng mang đậm đặc trưng của xử sở ngàn hoa.
Có nguồn gốc từ Bỉ, sú kẹp nách được trồng ở Đà Lạt từ thời Pháp thuộc. Cùng họ với cải bắp nhưng sú kẹp nách phát triển với nhiều mầm rau theo hình xoắn ốc dọc theo thân cây. Ở mỗi cuống lá sẽ là một quả giống như bắp cải nhỏ. Có lẽ chính vì đặc điểm khá đặc biệt này nên khi xuất hiện ở Đà Lạt, cái tên sú kẹp nách được hình thành một cách mộc mạc và thú vị như thế.


Nhìn qua bạn sẽ thấy sú kẹp nách rất giống bắp cải bởi những lá rau cuộn tròn xoe nhưng nhỏ xíu chỉ to hơn ngón tay cái.
Sú kẹp là loại rau dùng để làm salad hay luộc, chiên đều rất thú vị. Loại rau này có vị thanh mát và giàu chất dinh dưỡng. Đây được coi như một loại đặc sản ở Đà Lạt rất có lợi cho sức khỏe.
Bánh ướt lòng gà
Bánh ướt lòng gà là món mà du khách phải tìm ăn khi đến Đà Lạt. Món này không ăn với chả, nem hay bánh tôm như thường thấy ở nhiều nơi mà được ăn kèm với thịt và lòng gà. Sự kết hợp giữa miếng bánh dẻo mềm với thịt gà thơm ngọt, vị dai dai của lòng gà khiến cho món ăn trở nên rất ngon và lạ miệng.


Món bánh ướt thường thấy được chế biến hết sức đơn giản,
 nhưng với người Đà Lạt thì sự khéo léo và bản chất phóng khoáng đã làm cho món ăn trở nên đặc biệt.

Người dân ở đây làm bánh ướt tỉ mỉ từ khâu chọn gạo đến chọn lòng gà và thịt gà. Thường người ta chọn gà vườn không quá lớn, thịt chắc và không được nhão hay quá dai. Để tránh mùi tanh, lòng gà sau khi được sơ chế sẽ được ướp sơ qua một chút gia vị cùng hành tỏi cho thấm, khi làm cho khách mới xào chín để miếng lòng giữ được độ giòn thơm.
Kèm theo tô bánh ướt lòng gà là một chén nước mắm pha vừa ăn, có độ cay ngọt thanh nhưng đậm vị. Trong tiết trời se lạnh của sớm mai hay buổi tối, bạn sẽ không khỏi mê mẩn trước vị dẻo thơm của bánh ướt nóng mới tráng, chút béo ngậy từ miếng thịt, lòng gà quyện trong vị nước mắm vừa phải thêm chút cay của ớt lẫn thơm nồng từ rau thơm.
Bánh mì xíu mại
Khi nhắc đến xíu mại, có lẽ mọi người liên tưởng ngay đến những viên xíu mại nho nhỏ có nước sốt tươi đỏ thật bắt mắt. Thế nhưng xíu mại Đà Lạt khi dọn ra có thể khiến thực khách giật mình vì nó khác rất nhiều so với tưởng tượng.
Xíu mại Đà Lạt cũng được làm từ thịt nạc quết khéo nên có độ dẻo dai vừa phải, nêm nếm vừa nên hương vị rất nhẹ nhàng. Với nước dùng ninh từ xương heo quyện với nước ngọt thanh từ thịt nạc viên, cộng thêm một chút hành lá thái nhuyễn trang trí khiến cho món xíu mại Đà Lạt trở nên rất thanh từ hình thức đến hương vị.


Món bánh mì xíu mại hấp dẫn mang "thương hiệu" Đà Lạt.

Khi dùng xíu mại với bánh mì, thường người ta sẽ cho thêm một chút sa tế để xíu mại hơi đỏ và hơi cay, thêm phần hấp dẫn. Thực khách có thể dùng thêm chút giá và ngò, bỏ vào chén xíu mại cho ngấm nước sốt rồi dùng sẽ rất ngon.
Cách dùng bánh mì với xíu mại ở Đà Lạt cũng khác biệt. Nếu như các món bánh mì xíu mại bình thường người ta bỏ xíu mại vào trong bánh mì thì ở Đà Lạt, thực khách có thể xé nhỏ bánh mì chấm với xíu mại hoặc có thể bỏ xíu mại vào bánh mì tùy thích.
Chè hé
Chè hé Đà Lạt – cái tên vừa nghe qua cứ ngỡ như một món chè đặc sản của Đà Lạt với một nguyên liệu thật khó hình dung. Tuy nhiên, chỉ khi thưởng thức rồi, thực khách mới vỡ lẽ ra rằng, gọi là chè hé bởi quán phục vụ chè chỉ hé cửa do tiết trời rất lạnh của Đà Lạt. Hơn nữa, vì vị trí của mình nên quán phải khép cửa để không gian dành cho khách thêm ấm cúng trong chiều Đà Lạt lộng gió.


Chè "hé" có đủ hương vị cho thực khách lựa chọn.

Không biển hiệu và nằm khiêm tốn ở con dốc của đường 3/2 thành phố Đà Lạt, quán chè hé đã rất nhiều tuổi tồn tại một cách thân thuộc, gần gũi với người dân Đà Lạt lẫn du khách gần xa bằng thương hiệu khá mộc mạc. Ở đây, những món chè phục vụ gồm cả chè nóng và chè lạnh, chỉ có khoảng gần 10 loại được phục vụ như chè bắp, chè chuối, chè đậu…nhưng các món đều ngon, chế biến khéo léo với vị ngọt rất vừa, lại phục vụ bằng những chén chè nho nhỏ nên thực khách dùng hoài không ngán.
Điều đặc trưng làm cho chè hé trở nên nổi tiếng không chỉ bởi chi tiết “hé cửa” khá đặc trưng, mà còn bởi nét tiêu biểu thanh đạm nhẹ nhàng trong các món chè, khiến ai thưởng thức cũng ít nhiều cảm nhận cái hồn của Đà Lạt trong đó.
Cà phê Chồn
Cà phê chồn Đà Lạt đặc biệt bởi những hạt cà phê đã qua một quá trình nhai gặm của chồn, từ sự bào mòn bởi các enzym men tiêu hóa nơi dạ dày của nó, đã góp phần tạo nên hương vị rất đặc trưng của cà phê.


Hạt cà phê chồn chưa qua xử lý. Phải trải qua nhiều công đoạn, người ta mới tạo ra một ly cà phê chồn thứ thiệt.
Hương vị đặc trưng này chứa đựng cả một hành trình khám phá thú vị và độc đáo. Khi thưởng thức cà phê chồn Đà Lạt, người ta có thể cảm nhận được cả vị bùi của đất, vị ngai ngái, vị dịu dàng của hương rừng, vị thơm nồng đậm đà của cà phê… Sự cảm nhận ấy hình thành từ tinh chất trong thành phẩm và cũng là những tinh tế của riêng mỗi người thưởng thức. Điếu đó là yếu tố quan trọng làm cho cà phê chồn càng thêm độc đáo và quý hiếm.

VietBao.vn (Theo Làng nghề Việt Nam >>>)

Ngắm những bảo vật vô giá của thời đại Hùng Vương

Posted by khatvongmongmanh.blogspot.com 02:51, under | No comments


Trống đồng Ngọc Lũ I được đánh giá là chiếc trống đồng đẹp nhất của thời đại Hùng Vương từng được tìm thấy từ trước đến nay. Trống còn khá nguyên vẹn, có hình dáng cân đối, đường kính 79 cm, cao 63 cm. Trống được chia làm 3 phần: Tang trống nở phình, thân trống hình trụ đứng, chân trống hình nón cụt hơi choãi.


Nét đặc sắc nhất của trống đồng Ngọc Lũ I là hệ thống hoa văn hết sức phong phú, được chia làm hai loại là hoa văn hình học và hoa văn người, động vật và đồ vật.


Các nhà nghiên cứu xác định Trống đồng Ngọc Lũ I có niên đại 2.500 năm trước, được xếp vào loại H1 - loại trống đồng "cổ nhất, cơ bản nhất và từ loại này mà các loại khác ra đời”. Có thể nói đây là một kiệt tác được sáng tạo trong thời kỳ cực thịnh của văn hóa Đông Sơn.


Thạp đồng Đào Thịnh là một hiện vật đặc biệt thuộc nền văn hóa Đông Sơn, có niên đại từ 2.500 - 2.000 năm trước, được chế tác bằng đồng với chiều cao 98cm, đường kính miệng 61 cm, đường kính đáy 60 cm.


Thạp có dáng hình trụ, thuôn dần xuống đáy. Nắp đậy hình nón cụt, ở giữa có hình mặt trời 12 tia, xung quanh có 11 vành hoa văn. Nét đặc sắc nhất của thạp đồng Đào Thịnh là trên nắp thạp có 4 cặp tượng trai gái đang giao hợp (hiện còn 2 cặp nguyên vẹn).


Có thể nói, không chỉ là một tạo vật hết sức đặc sắc, thạp đồng Đào Thịnh là bản thông điệp của quá khứ gửi cho thế hệ mai sau về cuộc sống vật chất và quan niệm phồn thực, khát vọng sinh sôi nảy nở của con người và vạn vật của cư dân nông nghiệp lúa nước.


"Cây đèn hình người quỳ" là tên gọi của một cổ vật Đông Sơn độc đáo, có niên đại khoảng 1.700 - 2.000 năm trước. Đèn cao 40 cm, rộng 27 cm, nặng 1,9 kg, mang hình tượng một người đàn ông mình trần, đóng khố, hai tay nâng đĩa đèn trong tư thế quỳ. Trên đầu tượng được gắn vương miện, tóc để chỏm.


Có nhiều cách lý giải khác nhau về tạo hình của hiện vật này. Theo nhà nghiên cứu O.Jane, bức tượng thể hiện hình ảnh một vị thần. Ý kiến khác cho rằng cây đèn thể hiện văn hóa Hán và người đàn ông quỳ là một tù binh Hung Nô bị bắt và trở thành người hầu. Theo TS Phạm Quốc Quân, cây đèn thuộc nền văn hóa “Hậu Đông Sơn”, mang nguồn gốc và đậm chất Đông Sơn...


Đây là cây đèn hình người lớn nhất trong số ít cây đèn cùng loại, thể hiện kỹ thuật đúc khéo léo và phản ánh thẩm mỹ cao của cư dân cổ ở Việt Nam cách đây 2 thiên niên kỷ.


Có niên đại cách ngày nay 2.500 năm, mộ thuyền Việt Khê được đánh giá là ngôi mộ cổ nhất và đẹp nhất của nền văn hóa Đông Sơn. Mộ làm bằng thân cây khoét rỗng, có chiều dài 476 cm, rộng 77 cm, dày 6 cm, sâu 39 cm, cao cả nắp 60 cm. Đây là ngôi có kích thước lớn và nguyên vẹn nhất trong số những mộ thuyền Đông Sơn đã phát hiện ở Việt Nam.


Điều đặc biệt của mộ thuyền Việt Khê là bên trong mộ chứa 107 đồ tùy táng gồm chủ yếu là đồ đồng, một số là đồ gỗ và đồ da có sơn. Đây là kỷ lục về số lượng đồ tùy táng trong một ngôi mộ Đông Sơn, thể hiện đây là ngôi mộ của một nhân vật có thế lực trong xã hội lúc đó.


Các chuyên gia trong và ngoài nước đánh giá, mộ thuyền Việt Khê là một phát hiện khảo cổ học đặc biệt về nền văn hóa Đông Sơn. Ngôi mộ này là một minh chứng điển hình cho táng thức và táng tục của cư dân Đông Sơn giai đoạn sớm, đồng thời là nguồn tư liệu quý giá cho việc nghiên cứu các ngành nghề thủ công truyền thống cũng như lịch sử hình thành giai cấp trong xã hội Đông Sơn.

VietBao.vn (Theo_Kiến Thức >>>)

Độc đáo tục thờ “Vua Khỉ” của người Hoa Chợ Lớn

Posted by khatvongmongmanh.blogspot.com 02:39, under | No comments

Ngày nay, có ba hội quán cổ của người Việt gốc Hoa ở Chợ Lớn thờ Tề Thiên Đại Thánh. Đây đều là các hội quán do người gốc Phúc Kiến xây dựng.


Tục thờ Tề Thiên Đại Thánh là một nét văn hóa độc đáo của cộng đồng người Việt gốc Hoa sinh sống ở vùng đất Chợ Lớn xưa. Quanh tục thờ này có khá nhiều điều thú vị mà không phải ai cũng biết. (Ảnh trong bài được chụp tại khám thờ Tề Thiên Đại Thánh ở hội quán Hà Chương, 802 Nguyễn Trãi, quận 5, TP HCM).


Tôn Ngộ Khôn hay là Tề Thiên Đại Thánh vốn là một hình tượng văn học xuất hiện từ thời cổ đại Trung Hoa, được đưa vào tiểu thuyết Tây Du Ký từ thế kỷ 16. Đây được xem là nhân vật nổi tiếng nhất trong văn học cổ Trung Hoa và cũng là một hình tượng nghệ thuật thân thuộc với hàng triệu người Việt thông qua loạt phim truyền hình Tây Dy Ký do Trung Quốc sản xuất, trình chiếu từ năm 1986.


Trong Tây Du Ký, Tôn Ngộ Không là một con khỉ thành tinh sở hữu 72 phép thần thông. Sau khi được Ngọc Hoàng phong là Tề Thiên Đại Thánh (nghĩa là "Thánh lớn bằng trời'), Tôn Ngộ Không đã đại náo Thiên cung và bị Đức Phật nhốt dưới dãy núi Ngũ Hành Sơn suốt 500 năm trước khi quy phục Đường Tam Tạng và giúp vị hòa thượng này đi sang Tây Thiên thỉnh kinh.


Vượt qua nhiều sóng gió, các thầy trò Đường Tam Tạng đã lấy được kinh và thành chính quả, được phong làm Phật. Danh hiệu của Tôn Ngộ Không là Đấu Chiến Thắng Phật. Kể từ đó Tôn Ngộ Không - Tề Thiên Đại Thánh được thờ phụng như một vị Phật.


Do sức ảnh hưởng lớn trong văn hóa dân gian, từ một hình tượng hư cấu xuất hiện trong văn học, Tề Thiên Đại Thánh đã trở thành một đối tượng được thờ phụng trong nhiều đền miếu người Hoa, đặc biệt là ở vùng Phúc Kiến.


Trong quá trình di dân vào thế kỷ 17-19, cộng đồng người Phúc Kiến đã mang theo tục thờ Tề Thiên Đại Thánh đến các vùng đất mới, trong đó có Chợ Lớn và một số địa phương khác ở Việt Nam.


Ngày nay, có ba hội quán cổ của người Hoa Chợ Lớnthờ Tề Thiên Đại Thánh , là các hội quán Ôn Lăng, Hà Chương, Nhị Phủ. Đây đều là các hội quán do người gốc Phúc Kiến xây dựng.


Trong các hội quán này, hội quán Hà Chương là nơi có khám thờ Tề Thiên Đại Thánh lộng lẫy và tinh xảo nhất.


Các món ăn ưa thích của "Vua Khỉ" được này trên khám thờ.


Toàn cảnh khám thờ Tề Thiên Đại Thánh ở hội quán Hà Chương.

VietBao.vn (Theo_Kiến Thức >>>)

Muốn đắt khách phải cho thần tài sờ ngực

Posted by khatvongmongmanh.blogspot.com 02:28, under | No comments

Cư dân khu vực đô thị cổ Hội An (Quảng Nam) trong quá trình hình thành và phát triển trên mảnh đất này có nhiều phong tục độc đáo, riêng biệt và tạo nên dấu ấn so với những nơi khác.

Đặc biệt, những người buôn bán ở đây có rất nhiều mẹo và tín ngưỡng mang tính tâm linh cao. Nhìn những tín ngưỡng này về mặt văn hóa bản địa, ta sẽ thấy thêm nhiều nét đẹp. Có lẽ độc đáo nhất là phong tục áp tượng thần tài vào "nhũ hoa" của các nữ nhân viên bán shop trước mỗi ngày làm việc mới.

Không phải chuyện đùa...
Trong một lần trò chuyện với một nữ nhân viên tên Ngọc bán shop quần áo trên đường Hai Bà Trưng (thành phố Hội An) tôi tình cờ nghe và bất ngờ khi biết sáng nào, trước giờ làm việc, cô cũng áp tượng thần tài (vốn được để ở bàn thờ nhỏ trong shop) vào "nhũ hoa" của mình. Tôi bật cười trong khi cô nhân viên ban đầu thì cười mim mím, sau thì tỏ ra không vừa ý khi tôi có thái độ như vậy. Cuộc trò chuyện càng đi sâu vào chi tiết, cái lệ lạ này càng hấp dẫn và thu hút tôi hơn...
Theo Ngọc, không biết có tự bao giờ nhưng đa phần ở Hội An, hễ ai mở shop, thuê nhân viên nữ bán hàng đều dặn người làm của mình tuân thủ cái lệ hàng sáng ấy. Đối với shop nào có chủ nữ trực tiếp đứng bán thì khỏi cần phải nói. Sáng nào cũng vậy, sau khi hương khói trước và trong shop, cô chủ cũng cho ông thần tài "hưởng" một chút để bước vào một ngày mới may mắn và đắt khách. Cũng chẳng ai chứng thực được là không làm cái lệ ấy thì sẽ buôn bán ế ẩm, nhưng người ta cứ đời này truyền cho đời sau, người buôn bán đi trước truyền lại cho người đi sau, thành ra một cái lệ rất phổ biến và hầu như ai làm kinh doanh cũng đều biết. 


Shop bán quần áo và giày dép trên đường Hai Bà Trưng, Hội An (Quảng Nam)

Thường thì buổi sáng, những nhân viên hay chủ shop nữ đến shop phải tắm rửa sạch sẽ, ăn mặt gọn gàng trước khi đi vào các công đoạn của phong tục này. Đầu tiên là phải đặt hương xin ngài (tức tượng thần tài) về chứng giám. Sau đó, nhẹ nhàng đưa ngài vào nơi vắng vẻ của shop, chỉ có ngài và cô gái thực hiện cái lệ ấy. Việc phải diễn ra theo trình tự chứ không phải muốn gì làm nấy. Đầu tiên, cô nữ nhân viên một tay cầm tượng ngài, quay mặt vào ngực mình, tay kia từ từ cởi áo ra. Khi đã cởi xong áo thì áp mặt ngài vào ngực mình, di chuyển đều từ trái qua phải rồi ngược lại. Ba lần như thế là xong. Mọi việc diễn ra trong vòng chưa tới 10 phút nhưng là phần quan trọng nhất của mỗi shop bán hàng trong một ngày.
Chia sẻ với chúng tôi, cô nhân viên tên Ngọc còn bảo: "Mới đầu vào làm, tụi em cũng không quen với cái phong tục ni nên thường xuyên bị bà chủ la. Nhưng dần dần mọi cái đều quen và tụi em coi như một phần việc của mình trong ngày...Có thể nhiều người cho việc này là mê tín nhưng em nghĩ đôi lúc nó cũng tạo động lực để tụi em làm tốt hơn việc trong ngày. Bắt đầu một ngày làm việc mới với tâm thế là sẽ gặp nhiều may mắn thì sẽ tốt hơn là không có 1 niềm tin nào rõ ràng cả. Đó cũng là một cái hay mà. Riêng em, công việc này giúp em "soi" lại ngực mình mỗi ngày...". Rồi cô bé cười...

Đi tìm những lý giải
Để tìm hiểu vấn đề, chúng tôi tìm đến một cụ bà tên Hương có ngôi nhà nằm sâu trong con hẽm trên đường Trần Phú (Hội An). Cụ năm nay đã 86 tuổi. Tuy sức khỏe vẫn chưa yếu bao nhiêu nhưng hằng ngày cũng chỉ đi ra đi vào mà thôi. Trước đây, cụ cũng từng buôn bán lớn trong khu phố cổ này nhưng do nhiều biến động của đời sống và tuổi tác, phải bỏ nghiệp kinh doanh lớn sớm, bôn ba với những chú tò he bên bờ sông Hoài rồi về nhà ở cùng con cháu. May mà giờ vợ chồng cô con gái út của bà cũng làm ăn khấm khá với 3 shop mở trong phố cổ Hội An.
Nghe chúng tôi hỏi về cái tục đưa tượng thần tài vào ngực nữ nhân viên bán hàng, cụ Hương trầm ngâm suy nghĩ. Cụ bảo: "Đúng là có cái tục ấy thiệt chú à. Nhưng có từ thời nào tui không rõ. Đời bà tui cũng đã biết. Rồi truyền lại cho mẹ tui, rồi đến tui. Có người bảo đây là tục của người Hoa vì trong văn hóa của họ ở Hội An theo tui được biết có những cái tương tự. Có người lại bảo cái tục ni của người Nhật... Nhưng cho dù có xuất xứ từ đâu, nó vẫn là một điều thiêng liêng, một nét văn hóa của những người buôn bán như tụi tui...".


Bà Hương còn bảo thường ngày trước, người ta thuê những cô gái còn trinh tiết đến bán ở những chỗ, những nhà buôn lớn. Bởi theo quan niệm của tục kể trên thì thần tài rất mê gái, đặc biệt là những cô gái còn trinh tiết. Đến nỗi những nhà thuê không được những cô cái còn trinh về làm thì phải nhờ, phải thuê một cô gái khác trong phố hoặc của nhà buôn bên cạnh còn trinh, mỗi sáng sang hiệu buôn của mình thực thi công việc đầu tiên trong ngày. Người được nhờ, được thuê phải hợp mạng, hợp tuổi với gia chủ và rất nhiều tiêu chí linh tinh khác. Vì thế, ngày trước, đây là 1 tục rất quan trọng và phức tạp của những người buôn bán và nhất là buôn bán lớn. Buôn càng lớn thì phải càng chú ý đến cái tục cho "ngài" hưởng hơi ngực con gái mỗi sớm... Giờ thì thời đại ngày càng phát triển. Nhiều nhà buôn, shop bán hàng không kỳ công đi tìm con gái còn trinh tiết về làm nữa. Vả lại, giờ, tìm chừng nào cho ra. Nhưng vẫn còn một số người giữ đầy đủ các công đoạn khắt khe của cái lệ ấy - bà Hương chia sẻ.
Theo kiến giải của riêng mình, chúng tôi lại tin rằng phong tục này có xuất xứ từ văn hóa Mẹ của người Việt trên khắp đất nước này. Từ việc truyền, xưng tụng và thờ cúng những vị thần có pháp danh đầu tiên là "Bà" đến những cây cầu, những ngọn núi, những tên đất, tên làng có tên bắt đầu là "Bà" khác. Đó là một nét văn hóa thuần nhất và xuyên suốt, biểu hiện cho nền văn minh lúa nước, nền văn minh đậm chất Việt. Nó đề cao vai trò của sự sinh sản, sức sống và trọng trách ươm mầm, tạo ra sự sống của người phụ nữ.
Phải chăng đó là sự tiếp biến và giao thoa với các nền văn hóa khác ở Hội An, việc để tượng thần tài vào ngực con gái trước một ngày buôn bán mới phải chăng cũng là một biểu hiện của ước mơ mọi thứ được sinh sôi nảy nở, ăn nên làm ra?
Không thể phủ nhận rằng, phong tục này tạo nên sự thú vị riêng, làm ta thấy thêm yêu, thêm muốn khám phá vùng đất cổ kính Hội An...

Theo GDTĐ




Những điều ít người biết về cây sống đời

Posted by khatvongmongmanh.blogspot.com 02:00, under | No comments

Sống đời vừa là một loài cây cảnh có hoa đẹp lại vừa là một vị thuốc có tác dụng kháng khuẩn rất tốt. ​


Cây sống đời còn được biết đến với tên gọi khác là cây lá bỏng, cây thuốc bỏng, cây bỏng nổ, cây trường sinh, cây lạc địa sinh căn. Đây là loài cây bản địa của Madagascar, được trồng và mọc tự nhiên tại nhiều vùng thuộc châu Á, Thái Bình Dương và Caribe.


Cây sống đời rất dễ trồng, có thể trồng bằng cây con tách từ cây mẹ hoặc bằng lá. Khả năng sinh sản sinh dưỡng bằng lá rất tốt.


Cây sống đời có lá mọc đối, phiến lá dày, hoa màu hồng hay đỏ. Loại cây này có khả năng thích nghi với nhiều loại khí hậu.


Trong văn hóa đại chúng, loài cây này mang ý nghĩa cầu chúc một năm mới dồi dào sức khỏe cho cả gia đình. Bên cạnh đó, cây còn thể hiện sự sinh sôi, nảy nở và tình đoàn kết của các thành viên trong gia đình.


Ngoài tác dụng làm cảnh, cây sống đời còn nổi tiếng có thể hỗ trợ điều trị một số bệnh như viêm họng, viêm xoang mũi, trĩ nội, kiết lỵ, viêm tai cấp,... Cây được xem là một vị thuốc có tác dụng kháng khuẩn rất rộng, rất tốt.


Cây sống đời cần nhiều ánh sáng và yêu cầu tưới nước thường xuyên với lượng nước vừa phải. Vào thời kỳ sinh trường, cần tưới nhiều nước cho cây, sau đó tưới ít lại. Mùa hè nên cắt bỏ chồi ngọn để tăng lượng hoa.

VietBao.vn (Theo_Kiến Thức >>>)

Bình phong – Nét kiến trúc độc đáo trong đời sống văn hóa Huế

Trải qua thời gian, bình phong Huế trở thành một nét đẹp kiến trúc và lối sống của người dân nơi đây.
Từ lâu trong kiến trúc nhà xưa của Huế, những bức bình phong luôn mang trong mình nhiều ý nghĩa độc đáo về mặt phong thủy và nghệ thuật. Trải qua thời gian, bình phong Huế trở thành một nét đẹp kiến trúc và lối sống của người dân nơi đây.
Bình phong trong kiến trúc Huế xưa
Ở Việt Nam, có lẽ không nơi nào vẫn còn giữ được nhiều kiểu bình phong như ở Huế. Đến Huế, mọi người có thể dễ dàng bắt gặp muôn hình vạn trạng hình ảnh của những bức bình phong từ các cung đình, phủ đệ, đình làng, miếu mạo,… cho đến những ngôi nhà vườn xưa của người dân.
Tuy chỉ là một yếu tố nhỏ trong tổng thể kiến trúc nhà xưa, nhưng bình phong được sử dụng nhiều trong các công trình kiến trúc khác nhau đã cho thấy ý nghĩa và tầm quan trọng của nó đối với đời sống tinh thần của người dân nơi đây.


Bức bình phong cổ tại đình làng Kim Long
(phường Kim Long, TP Huế) – Di tích văn hóa lịch sử cấp Quốc gia.

Bình phong là hiện thân của lối kiến trúc mang đậm tính dân gian. Theo quan niệm tâm linh, phong thủy và trong đời sống văn hóa Huế, những bức bình phong tạo thành các yếu tố “triều”, “án” có chức năng gia tăng tính bền vững của đất cuộc, ngăn chặn các uế khí, độc khí, hỏa khí xâm nhập nội thất, làm hại gia chủ, khiến cho căn nhà trở nên ấm cúng, an toàn hơn. Cũng vì lý do này mà trong tổng thể kiến trúc, các bức bình phong được xây dựng ngay trước mặt tiền của nhà, nằm ngay sau cửa ngõ.
Xét về cấu tạo, thông thường mỗi bức bình phong gồm có ba phần khác nhau. Phần đế thường được xây cao bằng bể cạn đặt phía trước, nếu không có bể cạn thì có thể xây thấp hơn. Phần nhiều đều được xây thành khối chữ nhật đơn giản hoặc thêm hình vân mây sóng nước.
Phần thân thường được xây dựng đối xứng, trên đó thường ghi câu đối với các biểu tượng theo mô típ tứ quý, bát quả,.. ở giữa ghi chữ Thọ, chữ Phước hoặc hình tứ linh (Long, lân,quy, phụng). Phần đỉnh có thể có hoặc không, nhưng nếu có thường có họa tiết “song Long chầu nhật”.

Theo nhận xét của các nhà nghiên cứu, bình phong không dùng để cầu lộc, tiền tài mà chỉ cầu sự may mắn, trường tồn. Đây là lý do tại sao từ trước nay không hề thấy chữ Lộc được dùng trang trí trên các bình phong.


Bức bình phong của nhà thờ họ Mai Văn (đường Nguyễn Phúc Nguyên, TP Huế) được làm tinh xảo từ kỹ thuật khảm sành sứ dưới đôi tay các nghệ nhân xứ Huế.

Dù giàu hay nghèo, trong khuôn viên nhà của Huế xưa thường có cho mình một bức bình phong án ngữ ngay mặt tiền ngôi nhà. Tùy theo nhu cầu, điều kiện, những bức bình phong cũng được làm từ những chất liệu khác nhau như gỗ, gạch, mây, đá, cây cảnh, tre, trúc.. nhưng phổ biến nhất vẫn là những bức bình phong xây bằng gạch đá được trang trí, chạm trổ công phu bằng cách ghép sành sứ.
Những mảnh gốm sứ, mảnh chai được cắt tỉa theo hình dáng và màu sắc khác nhau sau đó được các nghệ nhân gắn lại bằng những chất kết dính như vôi hàu, mật mía tạo nên những hình tượng cầu kỳ, đẹp mắt. Đây là một trong những kỹ thuật xây dựng độc đáo thể hiện bàn tay tài hoa của những nghệ nhân khảm sành xứ Huế.
Hiện nay ở Huế, những bức bình phong được làm theo cách này còn khá nhiều tại Kim Long hay lăng Tự Đức. Đó đều là những bức bình phong khảm sành sứ được đánh giá đẹp nhất nước. Không chỉ có ý nghĩa về mặt phong thủy, về sau bình phong còn kiêm thêm chức năng trang trí mỹ thuật trong kiến trúc nhà cổ truyền thống.


Một bức bình phong hàng trăm năm tuổi tại phủ thờ Khoái Châu Quận Công.

Bình phong là một nét kiến trúc đặc trưng, thể hiện nét văn hóa riêng độc đáo của người dân Cố đô Huế. Nói về bình phong cổ xứ Huế, không thể không kể đến “Bình phong long mã”, một trong những kiểu bình phong được sử dụng phổ biến nhất.
Trong nhận thức của mình, người Huế xưa nay thường hiểu “long mã”  (ngựa hóa rồng) là hóa thân của kỳ lân, một trong bốn tứ linh. Đây là con vật mình ngựa, đầu rồng, lưng mang bát quái tiên, là con vật không có thật mà là sản phẩm trí tưởng tượng của con người. Long mã cũng được xem là linh vật của Phật giáo khi cõng trên lưng Luật Tạng, một trong ba bộ phận của Tam tạng kinh.
Trải qua thời gian, hình ảnh của Long mã có nhiều biến đổi về cách thể hiện nhưng đều mang ý nghĩa là linh vật báo hiệu điềm tốt lành, là biểu tượng của sự thông thái, trường thọ. Sự nguy nga đường bệ, hạnh phúc vô song.
Chính vì vậy hình tượng Long mã được sử dụng nhiều ở đình chùa, miếu mạo của Huế. Được thể hiện trên các bức hoành phi, các bức bình phong vừa để trang trí vừa có ý nghĩa phong thủy trừ tà, khử trược.


Hình tượng Long mã (ngựa hóa rồng) được sử dụng nhiều trong kiến trúc bình phong ở Huế.


Bức “Bình phong long mã” nổi tiếng có thể dễ dàng bắt gặp khi đến Huế có lẽ là bức bình phong trước Trường Quốc Học Huế với hình tượng Long mã màu xanh trong tư thế tung vó cưỡi mây vẫn ngoái đầu nhìn lại.

Được xây dựng từ thời vua Thành Thái (1896), nằm tọa lạc ở địa thế đẹp, hướng mình ra sông Hương, Phu Văn Lâu, Đại nội,.. bức bình phong mang ý nghĩa đem lại sự thịnh vượng cho ngôi trường giàu lịch sử vốn là cái nôi đào tạo ra những nhân tài kiệt xuất như Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp…


Bức bình phong trước Trường Quốc Học Huế được xây dựng từ thời vua Thành Thái (1896) là một trong những bức “Bình phong long mã” nổi tiếng.

Hiện nay ở Cố đô Huế vẫn còn rất nhiều bức bình phong cổ có nhiều giá trị về mặt kiến trúc và văn hóa. Tuy nhiên cũng có thể nhận thấy một thực tế đáng lo ngại là dưới sự ảnh hưởng của đô thị hóa cùng sự mất dần đi nhà vườn truyền thống, số lượng các bình phong cũng giảm dần thấy rõ.
Bên cạnh đó, việc cải tạo hay xây mới nhưng không nắm rõ, hài hòa với tổng thể kiến trúc ngôi nhà cũng làm giảm đi ít nhiều giá trị và ý nghĩa của những bức bình phong.
Để gìn giữ nét kiến trúc dân gian độc đáo này, việc nghiên cứu và tìm cách bảo tồn là việc làm cần thiết và đáng được lưu tâm. Bảo tồn kiến trúc bình phong Huế không chỉ là bảo tồn, gìn giữ một nét kiến trúc Huế xưa mà còn phát huy một nét đẹp trong lối sống và tâm thức của người dân xứ Huế.


VietBao.vn (Theo Làng nghề Việt Nam >>>)