Thứ Bảy, 1 tháng 7, 2017

Nhận biết sớm các triệu chứng tai biến mạch máu não nhẹ

Posted by khatvongmongmanh.blogspot.com 07:34, under | No comments

Tai biến mạch máu não được chia thành 2 thể, tai biến mạch máu não nhẹ và nặng. Tuy nhiên, dù là thể nhẹ hay nặng đều khiến cuộc sống của người bệnh bị ảnh hưởng. Vì đây là một trong những triệu chứng sức khỏe nghiêm trọng nên ngay từ bây giờ chúng ta hãy tự trang bị cho mình những kiến thức cơ bản nhất, bao gồm các nhận biết sớm các biểu hiện bên ngoài, biện pháp chăm sóc và làm thế nào để hạn chế dẫn đến tình trạng nặng hơn.


Những triệu chứng nhận biết tai biến mạch máu não nhẹ
Tai biến mạch máu não nhẹ được hiểu như một cơn thiếu máu cục bộ thoáng qua, các triệu chứng giống như đột quỵ nhưng biến mất trong vòng từ 1 đến 2 giờ.
Theo kết quả thống kê cho thấy, tại Việt Nam trung bình mỗi năm có hàng nghìn người mắc mới và cũng rất nhiều ca bệnh tử vong vì tai biến mạch máu não. Tuy bệnh thường diễn ra nhanh, đột ngột nhưng chúng ta hoàn toàn có thể nhận biết các dấu hiệu của tai biến mạch máu não để phòng ngừa những hậu quả nghiêm trọng cũng như ngăn chặn nguy cơ tử vong cho người bệnh.
Tai biến mạch máu não có thể khiến người bệnh bị liệt, hôn mê, thậm chí tử vong tùy thuộc vào vùng não bị ảnh hưởng và mức độ trầm trọng của tổn thương.
Nguy cơ cao ở những người có yếu tố nguy cơ như tăng huyết áp, đái tháo đường, béo phì, bệnh tim mạch… Dấu hiệu để nhận biết cơn tai biến sắp xảy ra là người bệnh đột nhiên bị giảm thị lực, nói khó, yếu hoặc nằm liệt hẳn một bên tay, chân, liệt nửa người, chóng mặt, mất thăng bằng, đau đầu không rõ nguyên nhân… Khi thấy xuất hiện những triệu chứng trên, người nhà cần đỡ bệnh nhân tránh để bệnh nhân bị ngã, đặt bệnh nhân nằm nghiêng, hơi nâng đầu lên và đưa người bệnh đi cấp cứu tại cơ sở y tế gần nhất bởi việc điều trị chỉ đạt hiệu quả tối đa trong vòng 3 giờ đầu, kể từ khi xuất hiện dấu hiệu đầu tiên của tai biến mạch máu não nhẹ.
Những người bị tai biến mạch máu não nhẹ có biểu hiện lâm sàng nhẹ hơn so với những trường hợp bị tai biến mạch máu nặng. Biểu hiện lâm sàng do tắc mạch hoặc do vỡ mạch khó có thể phân biệt, để chẩn đoán nguyên nhân phải dựa vào yếu tố tiền căn, bệnh có sẵn và xét nghiệm cận lâm sàng.
Có những trường hợp điển hình, các triệu chứng xuất hiện đột ngột, tiến triển chỉ trong vài giờ hoặc vài ngày tùy từng người. Trên lý thuyết, các triệu chứng thần kinh khu trú tương ứng với khu vực tưới máu của động mạch bị tổn thương, tuy nhiên các động mạch thông nối với nhau nên có sự cấp máu bù bởi các động mạch còn nguyên, làm nhòe các triệu chứng.
Dưới đây là các triệu chứng tai biến mạch máu não cần phải cảnh giác:
·         Nhức đầu dữ dội, đột ngột. Triệu chứng này có ở trên 50% số bệnh nhân.
·         Đột nhiên thấy chóng mặt, ù tai, choáng váng. Một bên chân bị yếu hẳn, không vững.
·         Đột nhiên một bên tay không cầm nắm chắc được đồ vật, dễ rơi thìa, đũa, bát. Nhặt lại vật dụng để rơi một cách khó khăn.
·         Đột nhiên rối loạn ngôn ngữ: nói khó, nói ngọng, mọi người không hiểu được bệnh nhân nói gì. Triệu chứng này có thể chỉ diễn ra trong ít phút, nhưng cũng có thể kéo dài cả ngày trước khi tai biến nghiêm trọng xảy ra: bệnh nhân không còn khả năng phát ngôn.
·         Đột nhiên bệnh nhân có cảm giác như kim châm, kiến đốt ở đầu chi tay, chân, một nửa bên trên người.
·         Xuất hiện những “khoảng vắng”: thỉnh thoảng bệnh nhân như mất hẳn sự kiểm soát của chính mình. Đang nói bỗng mất ngang trong giây lát mới lại tiếp tục được câu chuyện. Để rơi vật dụng trong tay mà không biết để rồi vài giây sau mới sực nhớ ra và nhặt lên.
·         Những rối loạn trí thức: bệnh nhân đột nhiên mất định hướng trong vài phút, vài giờ. Thoáng quên, thoáng điếc, mất định hướng về không gian và thời gian.
·         Đột nhiên xuất hiện cảm giác như có ruồi bay trước mắt, mất thị lực hoàn toàn hoặc một phần, hoặc một hai bên trong giây lát.
Xử lý trước tai biến mạch máu não nhẹ
Tai biến mạch máu não nhẹ không gây tổn thương vĩnh viễn. Khi các triệu chứng xảy ra, người bệnh không thể xác định được đó là một cuộc tấn công do tai biến mạch máu não nhẹ hay một cơn tai biến mạch máu não nghiêm trọng. Lúc đó, bạn là người thân của bệnh nhân thì nên gọi 115 ngay cả các triệu chứng biến mất trong vài phút.
Tai biến nhẹ có thể gây ra bởi tình trạng xơ cứng động mạch, xơ vữa động mạch hay bệnh tim. Hiếm khi tai biến nhẹ xuất hiện là do xuất huyết não.
Việc điều trị tai biến mạch máu não nhẹ nhằm ngăn chặn nguy cơ đột quỵ nghiêm trọng xảy ra trong tương lai. Gần 20 người bệnh bị tai biến mạch máu não nhẹ nếu không được điều trị sẽ xảy ra tình trạng tai biến mạch máu não trong vòng 90 ngày tiếp theo.
Thuốc chống đông máu là phương pháp điều trị chủ yếu bệnh tai biến mạch máu não nhẹ. Trong đó, thuốc aspirin được chỉ định phổ biến do thuốc ảnh hưởng đến các tế bào tiểu cầu trong máu, giảm khả năng chúng liên kết với nhau và hình thành cục máu đông. Bên cạnh đó, người bệnh có thể sử dụng kết hợp các loại thuốc aggenox, clopidogel, heparin… Điều quan trọng là người bệnh cần sử dụng đúng thuốc theo chỉ dẫn của bác sỹ và dược sỹ. Các loại thuốc trên đều có tác dụng phụ, dược tính mạnh và có thể tương tác với các loại thuốc khác, thậm chí là thuốc không cần kê đơn.
Chế độ ăn và vận động cho người tai biến mạch máu não nhẹ
Chế độ ăn :
Người bệnh nên bổ sung một chế độ ăn giúp loãng máu. Các loại gia vị như ớt, tỏi, hành tây, gừng, hạt tiêu là những loại gia vị được khuyến khích sử dụng giúp phòng đột quỵ. Các loại trái cây như chuối, cam, bưởi,…giầu kali và vitamin C giúp cải thiện chức năng nội mô, ngăn ngừa sự hình thành các huyết khối trong tĩnh mạch có tác dụng phòng ngừa đột quỵ.
Ngoài ra, các loại ngũ cốc nguyên hạt: như các loại đậu, hạnh nhân có tác dụng ngăn ngừa nguy cơ đột quỵ. Các loại rau, củ, quả chứa nhiều chất xơ, axit folic được khuyến khích sử dụng nhằm ngăn ngừa tai biến mạch máu não như: súp lơ, các loại rau có màu xanh đậm,.. có tác dụng giảm cholesterol, tăng tuần hoàn. Các chất béo bão hòa như: dầu vừng, dầu đậu nành, dầu cá thu, cá ngừ, cá mòi,… đều có tác dụng phòng ngừa máu đông.
Người bệnh không nên sử dụng các thực phẩm nhiều vitamin K thường tìm thấy nhiều trong gan và lòng đỏ trứng gà, mùi tây, măng tây, dầu oliu, dâu tây, kiwi. Hạn chế thực phẩm nhiều muối, các thực phẩm giầu đạm, chất béo như các loại thịt có màu đỏ, nội tạng động vật …
Chế độ vận động:
Với các trường hợp nặng cần đổi tư thế nằm của bệnh nhân mỗi giờ để chống loét. Nên xoa bóp bắp cơ, vận động các khớp tay và chân cho bệnh nhân để máu lưu thông và tránh cứng khớp. Tập vận động để giúp phục hồi nhanh. Sau khi xuất viện, tập vận động tại nhà hoặc có thầy thuốc chuyên khoa tâm lý trị liệu hướng dẫn. Cố gắng cho bệnh nhân tự làm các hoạt động sinh hoạt hàng ngày với sự trợ giúp của thân nhân để có thể hồi phục sớm.

Nguồn: Tổng hợp

Bệnh rối loạn tiền đình – Những điều bạn cần biết

Posted by khatvongmongmanh.blogspot.com 03:03, under | 1 comment

I. Có thể bạn chưa biết !
1. Tiền đình nằm ở đâu?
Tiền đình là một hệ thống thuộc thần kinh nằm ở phía sau ốc tai, có vai trò quan trọng trong duy trì tư thế, dáng bộ, phối hợp cử động mắt, đầu và thân mình. Dây thần kinh số 8 là đường truyền dẫn thông tin điều khiển hệ thống tiền đình giữ thăng bằng cho cơ thể. Khi chúng ta di chuyển,cúi, xoay…hệ thống tiền đình sẽ nghiêng, lắc để giữ thăng bằng cho cơ thể.


Tổn thương dây thần kinh số 8 do nhiều nguyên nhân khác nhau khiến thông tin dẫn truyền bị sai lệch làm cho cơ thể mất thăng bằng, hoa mắt, chóng mặt, ù tai, buồn nôn,… Đó chính là hội chứng rối loạn tiền đình.
Ngoài ra, động mạch nuôi dưỡng não do tắc nghẽn hoặc thiếu máu cũng khiến cho hệ thống tiền đình tiếp nhận thông tin chậm hoặc sai lệch từ não bộ, gây ra hội chứng rối loạn tiền đình.
2. Hội chứng rối loạn tiền đình – Nguyên nhân do đâu?
Có nhiều nguyên nhân gây ra hội chứng rối loạn tiền đình. Thậm chí có những nguyên nhân mà chúng ta ít ngờ đến nhưng lại là tác nhân chủ yếu gây bệnh.
Huyết áp thấp, tai biến, thiếu máu, các bệnh về tim mạch, rối loạn nội tiết ở tuổi tiền mãn kinh,…là những nguyên nhân phổ biến nhất làm tắc nghẽn mạch máu, gây ra hội chứng rối loạn tiền đình mà chúng ta vẫn thường nhắc đến.
Hội chứng Stress (lo lắng, căng thẳng, mất ngủ…)  là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây ra rối loạn tiền đình. Stress khiến cơ thể sản sinh một lượng lớn hoocmon Cortisol gây ra một loạt các bệnh như cao huyết áp, tiểu đường, tim mạch,… gây tổn thương hệ thống thần kinh, trong đó có dây thần kinh số 8. “Con đường” truyền dẫn truyền thông tin này bị “hư hại” khiến hệ thống tiền đình nhận được thông tin không chính xác và hoạt động không đúng yêu cầu, dẫn đến rối loạn tiền đình.


Hội chứng tiền đình là hậu quả của một số bệnh lý như: viêm tai giữa, thiên đầu thống, viêm dây thần kinh, u dây thần kinh, u não, …Với nguyên nhân này, người bệnh cần phải được can thiệp bằng ngoại khoa và các biện pháp y học hiện đại.
Môi trường sống và thói quen sinh hoạt không lành mạnh cũng gây nên rối loạn tiền đình như ô nhiễm âm thanh, cơ thể bị nhiễm độc do dùng một số loại thuốc trị bệnh, hóa chất, thói quen ăn uống, sử dụng rượu, bia, chất kích thích,…
3. Ai dễ mắc hội chứng rối loạn tiền đình
Ngày nay, rối loạn tiền đình đang ngày càng gia tăng ở nhiều lứa tuổi và nhiều ngành nghề khác nhau gây ra những ảnh hưởng nghiệm trọng đến chất lượng cuộc sống. Rối loạn tiền đình thường gặp ở các đối tượng:
§  Người chịu áp lực công việc lớn, phải ngồi lâu trước máy vi tính như nhân viên văn phòng, người lao động trí óc, học sinh, sinh viên..
§  Người bị thiếu máu: thiểu năng tuần hoàn não, phụ nữ sau sinh, phụ nữ ở độ tuổi tiền mãn kinh, thiếu máu sau chấn thương,…
§  Người có nồng độ cholesterol trong máu cao như bệnh nhân máu nhiễm mỡ, gan nhiễm mỡ, xơ vữa động mạch.
§  Người bị mắc các bệnh về thần kinh: Viêm dây thần kinh, u dây thần kinh, viêm tai giữa, mắt, tâm thần…


§  Người bị huyết áp thấp, huyết áp cao.
§  Người sử dụng nhiều bia, rượu; nhiễm độc thuốc hoặc hóa chất.
§  Người bị tổn thương hệ xương: viêm khớp, thoái hóa cột sống, thoát vị đĩa đệm…
§  Người già, các cơ quan bị suy yếu, lão hóa.
§  Người quan hệ tình dục không đều đặn.
4. Biếu hiện hội chứng rối loạn tiền đình
§  Hoa mắt, chóng mặt, quay cuồng, lảo đảo.
§  Buồn nôn hoặc nôn.
§  Mất cân bằng và mất phương hướng : không đứng vững, đi lại khó khăn.
§  Xáo trộn tầm nhìn: Nhạy cảm với ánh sáng , khó nhìn tập trung vào một điểm, có ảo giác.
§  Giảm thính lực: Ù tai, có tiếng ù trong tai.
§  Thay đổi nhận thức: khó tập trung, mất trí nhớ ngắn hạn, tinh  thần và thể chất mệt mỏi.
§  Thay đổi tâm lý: mất tự chủ, tự ti, lo âu, hoảng loạn, trầm cảm.
II. Rối loạn tiền đình khác thiểu năng tuần hoàn não thế nào?
80% người bệnh khi gặp chứng đau đầu, chóng mặt, buồn nôn, ù tai…thì cho rằng mình bị thiểu năng tuần hoàn não sau đó tự điều trị sai khiến các triệu chứng bệnh không giảm đi mà tần suất các cơn chóng mặt do rối loạn tiền đình còn tăng lên.



Thiểu năng tuần hoàn não
Hội chứng rối loạn tiền đình
Nguyên nhân
-Thiếu máu, huyết áp thấp.-Lo âu, căng thẳng.-Tắc nghẽn động mạch do: hàm lượng cholesterol trong máu quá cao, do cục máu đông.
- Thiểu năng tuần hoàn não.- Huyết áp thấp; cao huyết áp- Các bệnh tim mạch, thần kinh dẫn đến tổn thương dây thần kinh số 8.
Triệu chứng
Giống nhau
-Đau đầu, chóng mặt. ( thiểu năng tuần hoàn não cơn chóng mặt nhẹ hơn).-Suy giảm trí nhớ.-Mất ngủ,ngủ không sâu giấc.- Mệt mỏi.- Sợ lạnh, sợ độ cao.- Buồn nôn.
Khác nhau
- Đau sau gáy hoặc nửa đầu. Có thể xác định được vị trí đau
- Cơn đau không đặc trưng từng vùng. Không xác định được vị trí đau từng vùng.
- Có thể điều khiển nhận thức.
- Cơn đau nặng mất nhận thức.
- Có thể đứng hay ngồi.
- Quay cuồng, mất thăng bằng, không thể đứng hay ngồi. Lảo đảo
- Không ù tai
- Ù tai
- Ít gặp
- Thay đổi tâm lý: mất tự chủ, tự ti, lo âu, hoảng loạn, trầm cảm
=> Lâu ngày dẫn đến rối loạn tiền đình
Điều trị
Thuốc tuần hoàn não hoặc các thuốc có thành phần hoạt huyết, dưỡng huyết, tăng cường lưu thông máu.
Cần tìm ra cơ chế bệnh sinh để điều trị tận gốc. Tùy vào nguyên nhân gây ra bệnh.
Lưu ý : Nếu từng có tiền sử rối loạn tiền đình thì những cơn đau đầu, chóng mặt của bạn là do hội chứng rối loạn tiền gây ra.

Những biểu hiện ban đầu của hai hội chứng tương đối giống nhau khiến người bệnh dễ lầm tưởng dẫn đến việc dùng không đúng thuốc. Khi xuất hiện những triệu chứng này, người bệnh nên đi khám để tìm ra nguồn gốc gây rối loạn tiền đình để có phương pháp điều trị thích hợp.
III. Cách chúng ta đang chữa rối loạn tiền đình
Khi xuất hiện triệu chứng đau đầu, chóng mặt, mất ngủ, buồn nôn…bạn thường làm gì?
1. Tự đoán bệnh sau đó mua thuốc uống thuốc theo kinh nghiệm của bản thân dưới sự tư vấn của dược sĩ nhà thuốc.
Các triệu chứng  ban đầu của rối loạn tiền đình như: hoa mắt, đau đầu, khó ngủ, ngủ không sâu bệnh nhân dễ lầm tưởng  mình bị thiểu năng tuần hoàn não và tự điều trị theo hướng này làm bệnh có chiều hướng nặng hơn.
Nhóm thuốc hoạt huyết dưỡng não đang dùng hiện nay não có tác dụng chính là tăng cường tuần hoàn máu nhưng không điều trị được các nguyên nhân sâu xa gây ra rối loạn tiền đình như: thiếu máu, huyết áp thấp, xơ vữa động mạch, lo âu, căng thẳng…
Như vậy, chẩn đoán nhầm bệnh sẽ dẫn đến việc sử dụng thuốc không chính xác, nhóm thuốc hoạt huyết dưỡng não chỉ có tác dụng giảm các triệu chứng nhất thời của hội chứng mà không phòng tái phát và điều trị tận gốc các nguyên nhân gây bệnh làm cho bệnh tái phát nhiều lần khiến việc điều trị rơi vào vòng luẩn quẩn.


2. Khám bác sĩ và điều trị theo y lệnh.
Khi bệnh tình đã nặng hơn, xuất hiện thêm các triệu chứng như chóng mặt, ù tai, mất thăng bằng, .. người bệnh mới đi gặp bác sĩ và điều trị theo y lệnh. Ngày nay, với bệnh nhân rối loạn tiền đình nặng việc sử dụng nhóm thuốc tân dược để cắt nhanh triệu chứng rối loạn tiền đình vẫn là ưu tiên số một, song những thuốc này không nên sử dụng thường xuyên do nhiều tác dụng phụ.
Đối tượng mắc rối loạn tiền đình do thiếu máu, huyết áp thấp, mất ngủ, lo âu căng thẳng…việc sử dụng thuốc tân dược thường xuyên không phải là giải pháp tối ưu. Ngoài điều trị triệu chứng cần tìm ra nguyên nhân để có biện pháp điều trị và phòng tránh tái phát.
Một số nguyên nhân gây ra rối loạn tiền đình như: viêm dây thần kinh, u thần kinh, viêm tai giữa, u não,…bắt buộc phải can thiệp bằng các biện pháp y học hiện đại.
3. Tìm đến các thầy lang
Một số người bệnh có thói quen khám và uống thuốc của các thầy lang. Tuy nhiên, đa phần dược liệu được mua ngoài thị trường, không rõ nguồn gốc, không kiểm soát chất lượng và các chất bảo quản có thể gây độc cho cơ thể người. Hoạt chất có tác dụng điều trị trong dược liệu có thể không đảm bảo đủ hàm lượng đạt hiệu quả điều trị.
Hiện nay trên thị trường cũng có 1 số sản phẩm dành cho người mắc rối loạn tiền đình, nhưng cũng đều đi theo lối mòn giảm triệu chứng bệnh, không có công dụng phòng tránh tái phát bệnh cũng như giảm stress, một nguyên nhân rất lớn khiến bệnh rối loạn tiền đình nặng hơn.
Ta thấy, ngoài việc điều trị triệu chứng, cần chú trọng đến việc phòng tránh tái phát và giảm thiểu stress –  là yếu tố nguy cơ khiến bệnh trầm trọng.
IV. Giải pháp cho người mắc rối loạn tiền đình
Giảm nhanh triệu chứng của bệnh; phòng tránh tái phát và an thần, giảm căng thẳng là phương pháp điều trị rối loạn tiền đình hiệu quả nhất.
1. Giảm nhanh các triệu chứng do rối loạn tiền đình
Rau đắng biển, bạch quả, đan sâm, bạch thược,… được kết hợp trong Y học cổ truyền có tác dụng giảm nhanh các triệu chứng rối loạn tiền đình (đau đầu, chóng mặt, buồn nôn…) bằng cách kích thích tạo máu giúp tăng cường lưu lượng tuần hoàn, giảm tắc nghẽn do cục máu đông gây tắc nghẽn động mạch.
Ngoài tác dụng giảm nhanh triệu chứng rối loạn tiền đình, các thảo dược còn có công dụng tăng cường miễn dịch, tăng sức đề kháng và bồi bổ cho cơ thể người bệnh.


2. Phòng tái phát các cơn rối loạn tiền đình
Các cơn rối loạn tiền đình thường tái phát do cơ thể người bệnh bị suy yếu do thiếu máu hoặc do tổn thương thần kinh vì giải quyết nguyên nhân thiếu máu và bảo vệ tế bào thần kinh là vô cùng quan trọng.
Đương quy, xuyên khung, bạch thược,…trị thiếu máu, tăng cường miễn dịch, lưu thông khí huyết nên giảm thiểu và ngăn ngừa rối loạn tiền đình tái phát.
Hoa hòe giảm cholesterol, vững bền thành mạch, bảo vệ mô thần kinh giúp dây thần kinh số 8 dẫn truyền thông tin chính xác, khiến hệ thống tiền đình nhận đúng và thực hiện đúng mệnh lệnh, phòng tái phát rối loạn tiền đình.


3. An thần, giảm căng thẳng, tạo giấc ngủ sâu
Lo âu, căng thẳng là “thủ phạm” gây ra rối loạn tiền đình phổ biến nhất hiện nay. Để điều trị tận gốc hội chứng người bệnh cần ngủ đủ giấc và có chế độ sinh hoạt hợp lý.
Cao bạch quả kết hợp rau đắng biển, đan sâm còn có công dụng tăng dẫn truyền thần kinh, giảm lo âu, căng thẳng, tạo giấc ngủ sâu, giảm thiểu tác nhân nguy hiểm gây “hư hại” dây thần kinh số 8 và làm rối loạn tiền đình thêm nặng hơn.


VI. CHẾ ĐỘ SINH HOẠT
Người bệnh cần nắm rõ những triệu chứng mình sẽ gặp phải để lường trước và tránh những nguy hiểm có thể xảy ra trong cuộc sống hàng ngày. Từ đó có chế độ sinh hoạt phù hợp.
1. Chế độ nghỉ ngơi và làm việc
§  Ban đêm nên để đèn ngủ cho dễ nhìn sự vật chung quanh.
§  Không ngồi liên tục quá lâu, nhất là ngồi máy tính. Nếu bắt buộc phải ngồi lâu thì sau 2h bạn đứng lên và đi lại một chút.
§  Tránh ngoảnh cổ, đứng ngồi quá nhanh, không nên leo trèo cao và đọc sách báo khi ngồi trên xe hơi.
§  Cố gắng giảm các tác nhân gây căng thẳng, lo âu, hoảng hốt trong cuộc sống của bạn và cần tránh tiếp xúc với các chất liệu hoặc thực phầm có mùi vị kích thích.
§  Nếu thường hay bị choáng váng thì bạn không nên lái xe hoặc điều khiển máy móc có động cơ mạnh. Đặc biệt, bạn phải ngồi hoặc nằm ngay khi cảm thấy chóng mặt.
§  Tập thể dục thường xuyên có lợi cho sức khoẻ, bạn có thể tham khảo một số bài tập thể dục tốt cho người mắc rối loạn tiền đình


2. Chế độ ăn
a. Thực phẩm bạn không nên dùng
§  Các loại thực phẩm và đồ uống có lượng đường, lượng muối, cao như:bánh, kẹo, bơ, dưa muối,…
§  Các thực phẩm chứa hàm lượng cholesterol cao như: nội tạng, lòng đỏ trứng, gan, phô mai,…
§  Tránh các thực phẩm và đồ uống có chứa các chất kích thích như cafein,  rượu, bia. Hạn chế uống cà phê, hút thuốc lá.


b. Chế độ ăn thích hợp cho bạn
§  Bạn nên ăn nhạt hơn so với khẩu vị bình thường của bạn một chút.
§  Uống nhiều nước, mỗi ngày bạn nên uống chừng 1,5 lít nước. Bởi vì cơ thể được bổ sung đủ nước sẽ giúp ổn định lưu thông tuần hoàn máu.
§  Nên ăn nhiều thực phẩm như: rau xanh, hoa quả tươi , rau bina, các rau họ cải, cam, quýt, cà chua, gan cá, lòng trắng trứng, nấm, ngũ cốc…Những thực phẩm này chứa nhiều Vitamin B6, Vitamin C, Vitamin D, Acid folic… là những hoạt chất rất có lợi cho bệnh nhân rối loạn tiền đình.

Theo tiendinhkhang

Những nghịch lý trong bệnh tăng huyết áp và cách phòng chống


Trên thế giới mỗi năm có tới 17,5 triệu người tử vong do tăng huyết áp

Bệnh lý phổ biến trong cộng đồng
Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã có khoảng 1,5 tỷ người trên thế giới bị Tăng huyết áp. Thống kê tại Hoa kỳ năm 2006 cũng cho thấy, có khoảng 74,5 triệu người Mỹ bị THA, tức là cứ khoảng 3 người lớn lại có 1 người bị THA… Con số này ngày càng tăng nhanh chóng với những biến chứng nặng nề, ảnh hưởng đến bệnh nhân, gia đình và xã hội.
Nhưng một điều đáng lưu tâm hơn là tỷ lệ những người bị THA còn đang gia tăng một cách nhanh chóng ở cả các nước đang phát triển thuộc châu Á, châu Phi. Ngay ở Việt Nam, theo một điều tra gần đây nhất của Viện Tim mạch Quốc gia tại 8 tỉnh và thành phố của nước ta thì tỷ lệ THA của những người từ 25 tuổi trở lên đã là 27,4%.

Tăng huyết áp: “Kẻ giết người số một”
Điều này đã được nhấn mạnh trong báo cáo về sức khoẻ hàng năm của Tổ chức Y tế thế giới năm 2002. Minh chứng là vào năm 2008, người ta ước tính có khoảng 17,5 triệu người trên thế giới bị tử vong do THA và các biến chứng tim mạch. Một điều tra tại Hoa Kỳ năm 2006 cũng cho thấy có 56.561 người Mỹ bị tử vong vì THA.
GS. BS Nguyễn Lân Việt- Viện trưởng viện Tim mạch Việt Nam cho biết: “Tăng huyết áp là bệnh lý có thể gây ra rất nhiều biến chứng khác nhau, làm cho người bệnh trở nên tàn phế, thậm chí có thể tử vong. Trong đó, các biến chứng thường gặp nhất là: Các biến chứng về tim (Cơn đau thắt ngực, Nhồi máu cơ tim, suy tim…), Các biến chứng về não (Xuất huyết não, Nhũn não, bệnh não do THA…), Các biến chứng về thận (Đái ra protein, phù, suy thận…), Các biến chứng về mắt (Mờ mắt, xuất huyết, xuất tiết và phù gai thị), Các biến chứng về mạch máu (Phình hoặc phình tách thành động mạch, các bệnh động mạch ngoại vi…)”.
GS. BS Nguyễn Lân Việt còn cho biết thêm: “Căn bệnh này còn được gọi là “Kẻ giết người thầm lặng” bởi chỉ có một số ít các bệnh nhân THA là có một vài triệu chứng cơ năng gợi ý cho họ đi khám bệnh như: đau đầu, chóng mặt, cảm giác “ruồi bay”, mặt đỏ bừng, ù tai,… Nhưng đa số các bệnh nhân bị THA lại thường không có các dấu hiệu cảnh báo trước. Nhiều khi, lúc thấy có triệu chứng đau đầu xuất hiện thì tiếp ngay sau đó cũng là kết thúc cuộc đời của họ do đã bị xuất huyết não nặng nề.
Mặt khác, tuyệt đại bộ phận (khoảng 90%) các bệnh nhân bị THA là không rõ nguyên nhân (còn gọi là THA nguyên phát). Chỉ một số nhỏ các bệnh nhân (<10%) bị THA có tìm được nguyên nhân, tức là do hậu quả của một số bệnh lý khác. Do đó, những dấu hiệu thể hiện bệnh THA thường không đặc hiệu và người bệnh thường không thấy có gì khác biệt với người bình thường. Việc kiểm tra huyết áp thường xuyên, nhất là những người có những yếu tố nguy cơ về tim mạch, là hết sức cần thiết và quan trọng”.

Ba nghịch lý trong bệnh THA
Theo GS. TS Nguyễn Lân Việt, mặc dù chúng ta đã hiểu rõ sự phổ biến và mức độ nguy hiểm của bệnh THA, nhưng cho đến tận bây giờ THA vẫn tồn tại 3 nghịch lý. Thứ nhất, THA là bệnh rất dễ phát hiện (bằng cách đo HA khá đơn giản) nhưng người ta thường lại không được phát hiện mình bị THA từ bao giờ.
Thứ hai, THA là bệnh có thể điều trị được nhưng số người được điều trị không nhiều. Và THA là bệnh có thể khống chế được với mục tiêu mong muốn, nhưng số người điều trị đạt được “HA mục tiêu” lại không nhiều.
Theo thống kê của Tổ chức y tế Thế giới chỉ có 30% số người bị THA được điều trị và trong số những bệnh nhân được điều trị này thì cũng chỉ có 12% số bệnh nhân được kiểm soát tốt về huyết áp (dưới 140/90mmHg). Ngay tại một số nước phát triển như Hoa Kỳ, vào năm 2006, trong tổng số người bị THA có khoảng 77,6 % người đã biết có bị THA, chỉ có 67, 9 % được điều trị và chỉ có 44,1% là được khống chế tốt để đạt được “huyết áp mục tiêu”.

Vì sao lại tồn tại những nghịch lý này?
Đây thực sự là vấn đề không phải đơn giản. Chúng ta cần nhìn nhận một cách thẳng thắn vào những thực tế khách quan như: Nhận thức của nhân dân về sự thường gặp, về mức độ nguy hiểm của bệnh còn chưa đầy đủ và đúng mực. Việc điều chỉnh để có một lối sống hợp lý là vấn đề rất quan trọng trong việc phòng, chống bệnh THA nhưng việc áp dụng trong thực tế lại không đơn giản vì những thói quen sinh hoạt không hợp lý đã tồn tại từ khá lâu và nhận thức của người dân cũng còn những hạn chế nhất định.
Thêm vào đó, người bệnh THA lại hay có nhiều bệnh lý khác đi kèm như: béo phì, tiểu đường, rối loạn lipid máu,… làm cho việc khống chế số đo huyết áp càng khó khăn hơn. Việc điều trị THA cần phải được thực hiện một cách liên tục và lâu dài, tuy nhiên trên thực tế nhiều người bệnh chưa thực hiện được đúng theo những nguyên tắc này, cũng có thể do người bệnh tự lầm tưởng là bệnh đã khỏi, hoặc do điều kiện kinh tế có khó khăn không tiếp tục mua được thuốc nữa, hoặc do một vài tác dụng phụ của thuốc gây ra đối với bệnh nhân,…

Cách phòng, chống bệnh tăng huyết áp
Ở nước ta, trước tình hình gia tăng nhanh chóng và những biến chứng nặng nề của bệnh tăng huyết áp, ngày 19/12/2008, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã ký quyết định phê duyệt chương trình phòng chống Tăng huyết áp trở thành Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2006 – 2010. Ban Điều hành quốc gia phòng chống Tăng huyết áp với nòng cốt là các cán bộ của Viện Tim mạch Việt Nam đã tích tham gia triển khai các hoạt động trong cộng đồng như truyền thông, giáo dục sức khoẻ, khám sàng lọc Tăng huyết áp, xây dựng các mô hình phòng chống Tăng huyết áp từ tuyến xã, phường tới tuyến trung ương.
Việc cổ vũ lối sống lành mạnh và thay đổi những lối sống có hại cho mỗi cá nhân là “vũ khí” hữu ích hàng đầu trong cuộc chiến chống lại “kẻ thù thầm lặng này”. GS. TS Nguyễn Lân Việt đã đưa ra một số lời khuyên hữu ích cho mỗi người để phòng chống bệnh THA là: Giảm cân nặng (nếu thừa cân). Không hút thuốc lá, thuốc lào. Không ăn nhiều chất béo bão hòa. Không ăn mặn (giảm muối trong khẩu phần ăn). Tập thể dục đều đặn hàng ngày. Hạn chế uống rượu bia. Tránh các căng thẳng, lo âu, nên tự tạo cho mình một cuộc sống hài hòa, vui vẻ. Kiểm tra thường xuyên số đo huyết áp của mình. Kiểm tra định kỳ các yếu tố nguy cơ khác (rối loạn đường máu, lipid máu…) để có thể kiểm soát kịp thời các yếu tố nguy cơ đó….

* Phương Linh

Những lưu ý đau đầu do tăng huyết áp

Posted by khatvongmongmanh.blogspot.com 02:38, under | No comments

Tăng huyết áp là nguyên nhân của nhiều bệnh và nó cũng gây ra nhiều triệu chứng trong đó hay gặp là đau đầu.Đau đầu do tăng huyết áp đã được T.C Janeway mô tả từ 1913.


Sử dụng máy đo huyết áp Omron để kiểm tra sức khỏe mỗi ngày
Ngoài ra, còn nhiều triệu chứng khác của bệnh tăng huyết áp cũng đã được nghiên cứu như chóng mặt, đánh trống ngực, chảy máu cam, ù tai, suy nhược, ra mồ hôi, mất ngủ, đái rắt đêm, đau trước ngực, khó thở gắng sức và khát. Nắm được những đặc điểm lâm sàng của bệnh tăng huyết áp là để giúp người bệnh và thầy thuốc phát hiện được sớm, dự phòng được những tai biến nguy hiểm và có kế hoạch điều trị cơ bản bệnh tăng huyết áp. Một số công trình nghiên cứu của nhiều tác giả đã nhận thấy có 3 triệu chứng trung thành và tương đối thường xuyên nhất của tăng huyết áp: đau đầu, chóng mặt và đánh trống ngực. Bài viết dưới đây đề cập đến biểu hiện đau đầu – biến chứng và các phương pháp điều trị.

Đau đầu do tăng huyết áp có những đặc điểm gì?
Bằng nhiều công trình nghiên cứu tỉ mỉ những thông tin hỏi bệnh do thầy thuốc và bản thân bệnh nhân tự trả lời, người ta đi đến thống nhất rằng đau đầu là một triệu chứng nổi trội ở bệnh nhân tăng huyết áp. Đau đầu do tăng huyết áp nhiều ở nữ hơn nam giới, tỷ lệ chiếm 3/4 trường hợp. Có thể do đặc điểm tâm sinh lý phụ nữ. Độ tuổi: trung bình thường gặp đau đầu do tăng huyết áp trên 50 tuổi, tính trội của đau đầu không tăng theo tuổi tác. Trái lại, triệu chứng chóng mặt có tỷ lệ ưu thế tăng theo tuổi đời. Xung đột tâm lý do buồn, làm cho đau đầu và các biểu hiện chức năng khác của tăng huyết áp tăng lên. Những bệnh nhân tăng huyết áp có hoạt động thể lực, ít có biểu hiện đau đầu và rối loạn chức năng khác.
Tính chất đau đầu do tăng huyết áp là đau đầu điển hình về buổi sáng, khu trú ở chẩm và giảm dần trong ngày về cường độ. Về thời gian biểu của đau đầu do tăng huyết áp phần lớn xảy ra về cuối đêm và sáng sớm (từ 4 – 5 giờ). Có thể đau đầu còn xuất hiện sớm hơn (vào khoảng 2-3 giờ sáng). Đau đầu làm bệnh nhân thức giấc. Có nhiều trường hợp, khi bệnh nhân tỉnh dậy đã thấy đau đầu rồi. Cần chú ý là các bệnh nhân tăng huyết áp mắc bệnh đau đầu khi ngủ làm cho bệnh nhân khó chịu và mất ngủ. Đau đầu còn kéo dài cho tới khi thức dậy, hay vào giờ đầu buổi sớm và thường bớt dần vào lúc bắt tay vào hoạt động công việc. Tuy nhiên, có một số ít trường hợp, đau đầu có thể kéo dài cả ngày như thế trong nhiều tháng hoặc nhiều năm. Nói chung, đau đầu thường khu trú nhiều ở vùng chẩm – trán. Bệnh nhân có cảm giác cứng các cơ gáy, đau lên đỉnh đầu và có thể lan tới vùng trán. Hầu hết đau đầu thường ở hai bên, cân đối và về ban đêm.

Đau đầu do tăng huyết áp sẽ dẫn tới những biến chứng gì?
Tiến triển của đau đầu do tăng huyết áp phụ thuộc vào hai yếu tố: bản thân huyết áp và trạng thái tâm lý.
Cho tới nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về sự tương quan giữa chỉ số của huyết áp với triệu chứng đau đầu, đều kết luận là không có sự song song hằng định nào cả. Trên thực tế, có một số bệnh nhân tăng huyết áp không bao giờ bị đau đầu, nhất là trong thời kỳ bệnh tăng huyết áp chưa có biến chứng. Hơn nữa, đau đầu tiến triển không phải bao giờ cũng song song với sự thay đổi của chỉ số huyết áp. Còn nói chung, một số khá lớn trường hợp đau đầu có biến đổi theo sự tiến triển của huyết áp hạ, có thể do ảnh hưởng không nhỏ của trạng thái tâm lý- cảm xúc bớt căng thẳng, tâm lý liệu pháp và biện pháp điều trị. Do đó, tác dụng điều trị có kết quả tốt nhất là bao giờ cũng phải kết hợp thuốc an thần với thuốc chống tăng huyết áp. Đặc biệt còn loại đau đầu triệu chứng của bệnh não do tăng huyết áp giả u, mà ở đây nổi bật lên là yếu tố phù nề não. Trong trường hợp này, đau đầu dữ dội có thể khu trú ở nhiều khu vực: thường là khu sau đầu, nhưng cũng có thể đau trội ở một bên. Phần lớn trong một đợt tiến triển, đau đầu có thể kéo dài thường xuyên suốt đêm ngày, xao xuyến, vật vã, thường kèm theo triệu chứng nôn. Hầu như bao giờ cũng có những dấu hiệu thần kinh khách quan: rối loạn nhìn (bán manh, nhìn đôi), rối loạn thăng bằng, đôi khi xuất hiện cơn co giật. Thường có rối loạn ý thức, có thể từ trạng thái lú lẫn, u ám tới hôn mê. Thường có những biến đổi điện não lan tỏa, ít nhiều tương đối nặng. Đáy mắt có những tổn thương thường gặp của bệnh tăng huyết áp, nhưng cũng có thể thấy chảy máu và phù nề gai thị giác. Áp lực dịch não tủy tăng và albumin cao. Bệnh não tăng huyết áp thường xuất hiện khi huyết áp tối thiểu trên 130mmHg. Giữa các đợt tiến triển, đau đầu vẫn mang tính chất cơ bản thông thường. Cũng cần lưu ý là bệnh não tăng huyết áp thể giả u này nếu không được xử trí kịp thời sẽ dẫn đến đột quỵ não.

Những biện pháp điều trị bệnh đau đầu do tăng huyết áp
Trước tiên phải điều trị căn nguyên bệnh tăng huyết áp. Đồng thời phải xử trí ngay hội chứng tăng huyết áp bằng các biện pháp thích hợp: bắt đầu từ những liều thuốc nhẹ, sau đó tăng dần (ăn nhạt, lợi tiểu cách quãng, methyldopa, chống mất kali). Tránh dùng loại thuốc giảm huyết áp mạnh ngay lúc đầu. Bao giờ cũng phải cho thêm thuốc an thần kết hợp: những thuốc trấn tĩnh thần kinh như diazepam nhưng nếu chưa đủ tác dụng thì có thể kết hợp với chống trầm cảm như amitriptylin, imipramin… Trong những trường hợp nhẹ, chỉ cần nghỉ ngơi, nằm thư giãn cũng có thể làm giảm mức độ đau đầu do tăng huyết áp. Trường hợp đau đầu do tăng huyết áp có kết hợp với bệnh Migraine thì sử dụng các loại thuốc chống Migraine kết hợp. Trong quá trình điều trị cần theo dõi chỉ số của huyết áp và mức độ của đau đầu. Khoảng 1/4 trường hợp thấy có sự thuyên giảm song song huyết áp và đau đầu. Có trường hợp huyết áp giảm nhưng đau đầu vẫn tồn tại. Đó là do không dùng thuốc an thần kết hợp và trạng thái tâm lý chưa được ổn định. Khi nghi ngờ xuất hiện bệnh não tăng huyết áp cần đưa người bệnh tới khoa cấp cứu hồi sức hoặc khoa thần kinh. Ở đấy thầy thuốc sẽ cho dùng các loại thuốc có tác dụng nhanh và mạnh hơn theo đường tiêm, truyền tĩnh mạnh sodium nitroprusside, diazoside, hydralazine, enalaprilat… Cần thận trọng những loại thuốc này không được dùng trong điều trị ngoại trú .

Theo Omron - yte

Tìm ra bí mật của bệnh cao huyết áp

Posted by khatvongmongmanh.blogspot.com 02:31, under | No comments

Nhờ một phát hiện có tính bước ngoặt mới đây, không lâu nữa, tình trạng cao huyết áp – nỗi lo của hàng trăm triệu người trên thế giới – sẽ được kiểm soát theo những cơ chế đơn giản như “tắt, bật” điện.



Theo Telegraph, các nhà khoa học Anh bước đầu đã tìm ra cơ chế gây tăng huyết áp ở người – nhờ thế họ hiểu được cơ thể kiểm soát huyết áp như thế nào, và vì sao mà quá trình này đôi khi bị rối loạn. Đây là một bước tiến có thể mang lại cách điều trị mới.
Nhóm khoa học từ Đại học Cambridge và Nottingham đã tìm ra điều này khi đang nghiên cứu chứng tiền sản giật – một tình trạng nguy hiểm do cao huyết áp gây ra ở các sản phụ.
Huyết áp trong cơ thể được hoóc môn có tên gọi angiotensins kiểm soát. Khi nồng độ của hoóc môn này quá cao, nó sẽ buộc các mạch máu co lại, làm tăng áp lực chảy máu trong mạch, tức là huyết áp.
Sau 20 năm nghiên cứu hoóc môn này, các nhà khoa học giờ đây tin rằng họ có thể tìm ra cách để kiềm chế không cho nó vượt quá mức, và từ đó kiểm soát được hiện tượng cao huyết áp.
“Chúng tôi đã tìm ra bước đầu tiên trong quá trình kiểm soát huyết áp”, giáo sư Robin Carrell từ Đại học Cambridge, nói.

(Theo vietnamnet.vn)


Những điều người bệnh cao huyết áp cần biết

Posted by khatvongmongmanh.blogspot.com 02:23, under | No comments

Nhiều người nhầm tưởng rằng chỉ khi nhiệt độ cao mới ảnh hưởng đến bệnh cao huyết áp. Nhưng thực tế không phải vậy khi nhiệt độ thấp cơ thể vì muốn duy trì thân nhiệt ổn định, giảm bớt sự toả nhiệt, các mao mạch sẽ phải co lại khiến lực cản huyết quản điều tiết bên ngoài tăng lên gây nên chứng tăng huyết áp.


Tại sao nhiệt độ thấp lại tăng huyết áp?
Thời tiết lạnh, huyết áp rất khó khống chế, nguy hiểm chủ yếu là gây ra bệnh biến chứng. Do mùa đông nhiệt độ thấp, cơ thể vì muốn duy trì thân nhiệt ổn định, giảm bớt sự toả nhiệt, các mao mạch sẽ co lại khiến lực cản huyết quản điều tiết bên ngoài tăng lên. Đồng thời, nhiệt độ thấp nên ra mồ hôi ít, khiến dung lượng máu tăng lên gây nên chứng tăng huyết áp.
Nếu ăn quá nhiều các chất đường, béo… sẽ khiến khả năng hấp thụ và trữ nước trong cơ thể tăng, làm cho dung lượng máu trong cơ thể tăng theo. Thêm vào đó là sự tồn tại của các trạng thái tình cảm xảy ra hàng ngày trong cuộc sống như lo lắng, căng thẳng, tức giận… tất yếu sẽ làm cho huyết áp không dễ khống chế.
Trong trường hợp thời tiết thay đổi, tính giao động của huyết áp tăng cao, nguy cơ chủ yếu là gây ra bệnh biến chứng, đặc biệt là xuất huyết não, đứt mạch máu do thiếu máu và tử vong do nhồi máu cơ tim.

Khi nào thì  huyết áp bất thường?
Huyết áp của chúng ta thường có hai thời khắc “cao điểm”, đó là khoảng 9 giờ sáng và 6 giờ chiều.
Huyết áp tăng cao hay xuống thấp là tuỳ theo sự thay đổi của tinh thần và cơ thể, thông thường trong khi ngủ khoảng 3 – 4 giờ đêm là thấp nhất, sáng sớm dần dần tăng cao, đến 9 giờ sáng là ở đỉnh cao nhất. Buổi chiều xuống khá thấp, đến 6 giờ chiếu lại trở lại cao điểm và trước khi ngủ lại về “đáy”.
Nếu sự thay đổi huyết áp của một ngưòi không phù hợp với quy luật này, điều đó đã nói rõ huyết áp của người đó đã không khống chế được, cần phải điều chỉnh uống thuốc.
Vì thế, trước khi đi khám bác sỹ, nên ở nhà tự đo huyết áp của mình trước 1 tuần. Mỗi ngày kiểm tra 4 lần vào các thời điểm: sau khi thức dậy, 9 giờ sáng, 6 giờ chiều và 9 giờ tối. Ngoài ra cần chú ý: nếu vừa vận động thì nên nghỉ 10 phút, sau đó mới kiểm tra huyết áp để có kết quả chuẩn xác.

Nguyên tắc sinh hoạt trong mùa lạnh cho người cao huyết áp
1. Chú ý phòng lạnh giữ ấm, tránh gió lạnh.
2. Hạn chế tối đa lượng muối nạp vào cơ thể, không nên ăn quá 6g muối/ 1 ngày. Nên ăn những thực phẩm giàu dinh dưỡng như thịt nạc, gà, cá, sữa và chế phẩm từ đậu. Hạn chế ăn những món ăn dầu mỡ, không hút thuốc, hạn chế uống rượu, và nên giữ cho đại tiện được thông suốt.
3. Duy trì chế độ tập luyện thể thao, nâng cao khả năng chống lạnh, cố gắng hết sức để tham gia một số môn thể thao ngoài trời có lợi cho huyết áp như đi bộ, tập thái cực quyền và khí công…
4. Hãy giữa một  tâm trạng ổn định, tránh để thể lực và tinh thần rơi vào tình trạng quá mệt mỏi. Tức giận và lo lắng cực độ đều có thể gây ra đứt mạch máu não. Cần duy trì tâm trạng lạc quan vui vẻ, không đuợc quá vui vẻ, quá tức giận, lo lắng, buồn phiền, bi thương, sợ hãi.
5. Kiên trì uống thuốc, duy trì huyết áp ổn định. Người bị bệnh cao huyết áp uống thuốc giảm huyết áp không nên tuỳ tiện dừng uống bởi sẽ dễ tăng huyết áp đột biến sau 40 giờ ngừng uống thuốc.

Theo Omron -yte